Bài Viết
Nguyễn Khoa Nam
Chủ Trương: Nguyễn Mạnh Trí
Kỹ Thuật: Nguyễn Khoa Danh
  Gặp Nhau Lần Cuối
Đỗ Đình Lũy


Sau khi rời Lữ Đoàn Nhảy Dù, tôi được thuyên chuyển đi khắp nơi, từ Biệt Khu Thủ đô, Tiểu Khu Phước Long, Sư Đoàn 9 Bộ Binh ở vùng châu thổ sông Cửu Long, rồi đi học khóa Chỉ Huy & Tham Mưu Cao Cấp tại Hoa Kỳ. Tôi rủ Nam cùng đi học Mỹ cho vui nhưng anh không chịu đi vì lúc này Nam vừa được cử làm tiểu đoàn trưởng TĐ5ND.
    Về nước, tôi trở lại Sư Đoàn 9 Bộ Binh đảm nhiệm chức vụ tham mưu trưởng, còn Nam thì làm lữ đoàn trưởng một Lữ Đoàn Nhảy Dù, tuy rằng hai đơn vị khác nhau nhưng tôi và Nam vẫn liên lạc thường xuyên. Đầu năm 1970, Nam rời binh chủng Nhảy Dù để đảm nhiệm chức vụ Tư Lệnh Sư Đoàn 7 Bộ Binh, anh em thật mừng vì thấy rằng cấp trên đã chọn đúng người có khả năng và tư cách. Lúc này, tôi không còn ở sư đoàn nữa mà cũng được về làm Chánh Võ Phòng Phủ Thủ tướng. Tôi thường hay xuống Mỹ Tho thăm Nam, thấy anh vẫn sống đạm bạc như xưa và luôn luôn tỏ ra ưu tư về tình hình đất nước.
    Cuối năm 1974, anh được cữ làm Tư Lệnh Quân Đoàn IV. Đêm đó, trước khi đi nhận bàn giao Quân Đoàn, anh gọi điện thoại cho tôi và yêu cầu tôi xuống Cần Thơ làm việc với anh. Anh nói rằng:
- Tôi biết rằng nhiệm vụ này rất là khó khăn và nhiều thử thách như ông đã biết, nhất là trong giai đoạn này. Ông thấy rằng mặc dầu đã ký hiệp định Paris nhưng chiến tranh mỗi ngày một thêm ác liệt và gia tăng cường độ, do đó nên tôi rất cần sự tiếp tay của một số anh em, nhất là đối với ông thì chúng ta đã cùng nhau làm việc từ khi mới chân ướt chân ráo vô quân đội. Mời ông xuống đây cùng làm việc với tôi, đó là điều tôi rất mong muốn và cám ơn ông.
Thật tình lúc đó tôi mới về Sài Gòn được ít lâu nên tôi cũng muốn được gần gia đình để lo cho con cái ăn học do đó tôi cũng rất ngại ngần khi nghe anh nói. Đành lựa lời nói với anh xin thư thả cho ít tháng để tôi thu xếp việc gia đình rồi sẽ tính.
    Vào tháng 2 năm 1975, anh ghé thăm tôi sau khi dự họp tại dinh Độc Lập về vấn đề bình định. Anh nói với tôi tình hình quân sự ở Vùng 4 thì rất khả quan nhưng ở các vùng chiến thuật khác, sau khi được nghe thuyết trình tình hình chung trong nước, thì coi bộ không được sáng sủa cho lắm, nhất là thái độ của Hoa Kỳ.
    Ngày tôi và anh gặp nhau lần cuối cùng là ngày 18-4-1975, hôm đó tôi đi họp Ủy Ban Bình Định Trung Ương đại diện cho Bộ Quốc Phòng. Chấm đứt buổi họp về lại bộ, đến cửa nhìn trong bãi đậu xe thấy có một xe jeep mang bảng tướng 2 sao. Tôi cũng chả để ý vì ở đây hàng ngày sĩ quan cấp tướng, cấp tá đến liên lạc rất là nhiều. Vừa bước chân vào văn phòng thì ông Trung Tá Kỳ, chánh văn phòng, đến báo là có Thiếu Tướng Nguyễn Khoa Nam, Tư Lệnh Quân Đoàn IV đến chờ nãy giờ chừng 10 phút. Tôi vội vàng mời anh vào văn phòng. Anh cho biết là vừa họp bên dinh Tổng Thống với các tư lệnh và các tỉnh trưởng kiêm tiểu khu trưởng. Anh buồn rầu nói rằng:
- Tình hình nguy ngập lắm rồi ông ạ, theo tôi nghĩ thì không thể nào cứu vãn được nữa. Một mặt thì Hoa Kỳ phủi tay, mặt khác thì cấp lãnh đạo mình chỉ ỷ lại vào ngoại bang nên bây giờ thấy nó bỏ thì đâm ra luống cuống, tự mình làm rối loạn hàng ngũ của mình. Thật sự mà nói thì từ ngày mồng 10 tháng 3 địch quân bắt đầu mở màn cuộc tấn công Ban Mê Thuột đến nay, quân đội ta tự nhiên hỗn loạn mất tinh thần chiến đấu, mỗi ngày một co cụm lại, mỗi ngày một mất đất, chứ địch quân nó có tài giỏi gì đâu. Tôi xin nói thật với ông là tôi sẽ chiến đấu đến cùng, ngày nào mà ông nghe thấy Quân Đoàn IV và Vùng 4 Chiến Thuật buông súng thì cũng là ngày mà số phận tôi được an bài.
    Nghe anh nói, tôi cũng đã hiểu ý định của anh, vì cách đây khoảng mấy ngày, bạn tôi là Đại Tá Đặng Đình Thụy, chỉ huy trưởng trung tâm huấn luyện Chi Lăng ở vùng Thất Sơn, Châu Đốc có lên thăm và nói chuyện với tôi rằng ông Thiếu Tướng Nam, Tư Lệnh Quân Đoàn chắc có ý lập chiến khu ở vùng Bảy Núi nên mấy tuần lễ gần đây ông ấy cho chuyên chở lên chỗ anh nhiều súng đạn quá, có lẽ cả kho đạn Bình Thủy và kho súng của Bộ Chỉ Huy 4 Tiếp Vận đã được chuyển lên.
Tôi nhìn anh:
- Ông làm được thì tôi rất lấy làm mừng và hãnh diện đã có một người bạn đã hết lòng yêu đồng bào, yêu tổ quốc. Nhưng ông đã nghĩ đến vấn đề tiếp vận hay chưa? Kháng chiến lâu dài ta phải có một hậu phương vững mạnh để lo vấn đề yểm trợ cho các chiến sĩ vững lòng cầm súng chiến đấu chống quân thù.
    Ngồi một lúc lâu tôi hỏi anh đã ăn uống gì chưa? Anh nói là là có uống nước sơ sơ từ sáng đến giờ chưa có gì vào bụng cả. Tôi vội nhờ anh tài xế đi mua mấy khúc bánh mì và mấy chai nước ngọt, tôi và anh ngồi ăn trưa. Ăn xong, anh đứng lên bắt tay tôi thật chặt và chúc tôi cùng gia đình được bình an. Tôi có linh cảm đây là lần gặp gỡ cuối cùng giữa hai thằng bạn đã chung sống với nhau qua bao nhiêu là sóng gió, vui buồn trong cuộc đời quân ngũ; không hiểu sao tôi cố đè nén để giữ lòng bình tĩnh nhưng nước mắt chỉ chực trào ra. Hơn 20 năm trời quen nhau chưa bao giờ tôi thấy anh khóc mà hôm đó thấy mặc anh đỏ bừng, môi mím chặt, muốn sa nước mắt.
    Đây là lần cuối cùng tôi gặp anh, sau đó vào khoảng tháng 5-1975 lúc đang xin tỵ nạn ở Pháp nghe đài BBC loan tin là anh đã tự sát sau khi được lệnh Tổng Thống Dương Văn Minh đầu hàng. Tin này tôi đã chờ đợi từ ngày miền Nam sụp đổ, nó chẳng làm cho tôi bất ngờ và ngạc nhiên chút nào, vì chơi với anh hằng bao nhiêu năm trời, tôi đã rõ rằng anh có thể chết chứ không chịu nhục. Một trăm lẽ tám năm sau ngày cụ Phan Thanh Giản tử tiết để đền ơn vua nợ nước, Thiếu Tướng Nguyễn Khoa Nam, Tư Lệnh Quân Đoàn IV-Vùng 4 Chiến Thuật, đã chọn cái chết để bảo toàn danh tiết. Viết mấy dòng này để tưởng niệm Nguyễn Khoa Nam. Thể xác anh đã hòa tan vào lòng đất mẹ, nhưng anh linh sẽ tồn tại mãi mãi với trời xanh, đất thẳm, với tổ quốc giang sơn. Sinh vi Tướng, tử vi Thần. Cuộc đời anh thật là xứng đáng không hổ thẹn với dòng máu anh hùng của tiền nhân. Mong mỏi rằng một ngày nào đất nước sẽ đổi thay, toàn dân được sống ấm no trong thanh bình, thịnh vượng, tự do, dân chủ và hạnh phúc. Ngày ấy, chúng tôi, những người Việt Nam lưu vong ở hải ngoại sẽ trở về, và chúng tôi, những người chiến hữu của anh, sẽ đến thắp nén hương trước bàn thờ anh, người bạn anh hùng, người liệt sĩ mà lúc nào chúng tôi cũng luôn luôn cảm mến và kính phục:

“Nhân sinh tự cổ thùy vô tử
Tử ư quốc sự, tử do sinh.”

Ông  nguyên là Đại Tá QLVNCH
Chức vụ cuối cùng là Chánh Võ Phòng Phủ Thủ Tướng.