Bài Viết
Nguyễn Khoa Nam
Chủ Trương: Nguyễn Mạnh Trí
Kỹ Thuật: Nguyễn Khoa Danh
Kỷ Niệm Về Nguyễn Khoa Nam
Vĩnh Bội - Đầu hè 1993


Ừ nhỉ, một buổi trưa hè oi bức như hôm nay.
Tôi đặt bút nhìn quanh Thư Viện Quốc Gia Paris. Những mái đầu tóc hoa râm hay bạc trắng - đến đây để tìm lại cội rễ - chăm chú mắt dán vào chồng sách cũ kỹ đã vàng úa màu thời gian ...
- Bội ơi, tau muốn làm báo, mi có chịu không?
- Tau có viết báo khi mô mà nói! Tôi trả lời Nguyễn Khoa Nam.
    Tình cờ vì một sự dồn lớp sao đó, đầu hè 1950, tôi và Nam đã chọn được hàng ghế cuối, để dễ bề nói chuyện thỏa thích mà không ai chú ý. Trở lại mái trường xưa sau bốn năm xa cách; nhớ lại ngày Tổng Khởi Nghĩa mùa đông 1946! Chúng tôi gồm ba lớp đệ nhất, cùng với các bậc đàn anh như Cao Văn Khánh (sau này mệnh danh là con hùm xám Pleiku), Đoàn Huyên (sau trở thành Thượng Tướng Việt Cộng), vui vẻ lên đường, nhịp nhàng theo điệu “Tiến Quân Ca”, quay nhìn lại để thấy: “Cả đô thành nghi ngút cháy sau lưng” mà giờ đây chỉ còn lại mình tôi trơ trọi, lạc lõng giữa kinh thành xa lạ.
    Huế đã đổi khác nhiều quá. Một sự im lặng nặng nề đến ngạt thở, bao trùm cả hè phố, thỉnh thoảng chỉ bị lay động bằng những hồi còi của đoàn lính lê dương đi tuần. Những ý nghĩ vẩn vơ đưa tôi về với Nguyễn Khoa Nam. Tôi vẫn hình dung rõ ràng trong trí, bóng dáng người thanh mảnh, nho nhã có nụ cười hiền hòa, gương mặt cân đối, nước da trắng, môi hồng như con gái, đôi mắt trong sáng, nhưng không kém phần ranh mãnh.
- Tau muốn lấy tên tờ báo là “Mấy anh mấy chị.”
Tôi lại càng ngạc nhiên hơn, đưa mắt như thầm hỏi, thì Nam phá lên cười:
- Mi biết không, bưởi sáng đi học qua chùa Ba La, khi mô tau cũng thấy một mụ ăn mày, ngả nón xin tiền nói: “Thưa mấy anh mấy chị. Mụ nói rát cổ nhưng chẳng ai cho đồng xu ten ...”
    Rồi Hè trôi qua, tôi rời Huế, không biết tờ báo “Mấy anh mấy chị”có thành hình không, duy chỉ biết mình về đây để lại dự khán nhiều lớp thanh niên khác ra các chiến trường khốc liệt như Hòa Bình, Na Sản, rồi Điện Biên Phủ.
    Mười năm trôi qua, trở về Việt Nam vào năm 1960, mặc dầu bận rộn trong công việc kỹ thuật, nhưng thỉnh thoảng tôi cũng được nghe nói đến Nguyễn Khoa Nam. Anh đã hoàn toàn đổi khác, và nay trở thành một vị chỉ huy quân đội lừng danh.
    Pierre Darcourt, phóng viên kiêm sử gia Pháp, kể lại trong cuốn: “Vietnam, qu'as tu fais de tes fils?” (Việt Nam, anh đã làm gì các con anh?) Cuộc phỏng vấn như sau:
    “Tướng Nam tiếp tôi tại văn phòng Tư Lệnh. Vị Tư Lệnh Quân Đoàn IV, siết mạnh tay tôi, 48 tuổi, màu da sạm nắng, người chiến sĩ Dù ấy có vóc dáng rắn chắc, được huấn luyện cực khổ trong trường nhảy dù của Pháp, rồi sau được Mỹ huấn luyện về hành quân trực thăng vận. Pierre Darcourt viết: “Điều đầu tiên làm cho ta chú ý đến ông là vẻ mặt của một chiến sĩ cao quý.”
- Tướng Nam, tôi đến để tìm hiểu tình hình quân sự.
- Tôi xin nói về tình hình của Quân Khu IV. Những đơn vị Địa Phương Quân và Nghĩa Quân được cắt giữ gìn lãnh thổ; do đó tôi còn đầy đủ 3 sư đoàn chính quy để hành quân và đánh mạnh vào những đơn vị Cộng Sản xâm nhập từ Cao Miên. Ngày hôm qua và hôm nay, chúng tôi chạm nặng với một trung đoàn của Công Trường 5 Bắc Việt. Chúng tôi cũng thu được trên 100 vũ khí đủ loại, kể cả đại bác không giật, súng cối, phóng hỏa tiễn và luôn cả đại liên phòng không nữa.
- Ông làm thế nào để giải thích được sự sụp đổ ở miền Trung.
Tướng Nam vươn vai, đứng lên đi bước một trong văn phòng. Sau mấy phút im lặng, ông lại ngồi xuống ghế và nói tiếp:
- Ông Thiệu bị ám ảnh vì chuyện bị người Mỹ bỏ rơi. Tôi tin là ông Thiệu muốn làm cho tình hình đột nhiên hóa ra bi thảm, hy vọng rằng cuối cùng, Tổng Thống Ford sẽ vượt qua được một vài giới hạn nào đó để tiếp tục yểm trợ cho chúng tôi. Nhưng ông Thiệu tính lầm. Và chúng ta đã tốn quá nhiều giấy mực bàn về chuyện này. Cách tốt nhất để gây áp lực với Quốc Hội Hoa Kỳ và Tòa Bạch Ốc là chiến đấu tới viên đạn cuối cùng. Ngay cả phía Bắc Việt cũng không tin rằng họ dễ thành công đến như vậy. Bằng chứng rõ nhất là mãi đến tuần qua, 4 công trường chiến lược của miền Bắc mới vượt tuyến 17 xâm nhập miền Nam.
Tướng Nam nắm tay tôi và nói thêm:
- Chúng tôi đã làm việc với ông Thiệu gần 10 năm nay. Ông không còn được sự tín nhiệm của các tướng lãnh. Ông ban hành các mệnh lệnh mà không cần tham khảo ý kiến của ai.  Tôi nghĩ ông không còn thắng lướt các biến cố. Mọi người đang nổi giận vì quân đội bị hạ nhục.
- Thế ông tính sao đây? Lật đổ ông Thiệu chăng?
Tướng Nam bật lên tiếng cười chua chát:
- Dù sao, cũng không phải tôi đâu? Tôi chỉ là một người lính chuyên nghiệp. Nhiệm vụ tôi là đánh giặc và tôi sẽ tiếp tục đánh trận. Chính trị là chuyện bẩn thỉu. Tôi không muốn lội trong vũng bùn nhơ nhớp đó.
    Việt Nam ta có câu: “Con dòng cháu giống”. Pháp thì nói: “Bon sang ne sais pas mentir”, còn tôi vì là con nhà Phật nên tin ở thuyết luân hồi. 28 tháng 4 năm 1915, ta hãy đọc cố đạo Cardière viết:
    “Trong phiên họp để thuyết trình về việc tìm kiếm những ngôi mộ cổ của dòng họ Nguyễn Khoa tại làng Tứ Tây, phía Đông Nam núi Ngự Bình, tôi có nhờ ông Nguyễn Khoa Đạm, giáo sư Hán Văn trường Quốc Tử Giám, và ông Nguyễn Khoa Kỳ, Tư Vụ Bộ Hình, dịch các bia mộ, đồng thời sưu tầm gia phả dòng họ Nguyễn Khoa. Trong Đại Nam chánh biên liệt truyện sơ tập, và Đại Nam liệt truyện tiền biên đã viết về một danh tướng khác tên là Nguyễn Khoa Kiên.”
    P. Cardière kể tiếp: “Nguyễn Khoa Kiên thuộc đời thứ bảy dòng họ Nguyễn Khoa, sanh năm Giáp Tuất (1754) và mất năm Ất Vị (1775)” -  đúng 200 năm trước ngày Tướng Nguyễn Khoa Nam tự vẫn.”
    Cuốn sách tham khảo cuối cùng vừa được xếp lại thì tôi cũng mệt nhoài, choáng váng. Ngả lưng ra ghế bành, ngước nhìn lên trần vòng cung cao vút kiến trúc và chạm trổ theo thời đại Trung Cổ, như điện Panthéon nơi chôn cất các vị anh hùng, danh nhân nước Pháp, tôi đi vào không tưởng và đàm thoại với “người quá khứ”:
- Bội ơi, ngó ôn mệ tau có oai không ?
- Thì đại ca cũng rứa, có thua chi mô!

Ông Vĩnh Bội là bạn học lớp Đệ Nhất trường Khải Định
với Tướng Nguyễn Khoa Nam.