Hoạt Động Của Lữ Đoàn 3 Dù Trong Năm 1969
Vào đầu năm 1969, tình hình trở nên căng thẳng trong khu vực Tây Ninh và dọc theo biên giới Việt-Miên. Cộng Sản, sau khi tái trang bị các đại đơn vị bị thiệt hại nặng nề sau cuộc “Tổng Công Kích Mậu Thân” đã tung ra bốn sư đoàn chủ lực tấn công các căn cứ của ta. Công Trường 5 Việt Cộng từ chiến khu D bung ra tấn công các căn cứ Hoa Kỳ chung quanh Sài Gòn. Sư Đoàn 1 Cộng Sản Bắc Việt từ chiến khu C hoạt động dọc theo quốc lộ 1 để dụ các đơn vị tổng trừ bị Việt-Mỹ theo kế “diệu hổ ly sơn” nhằm mục đích mở đường cho Công Trường 7 Cộng Sản Bắc Việt và Công Trường 9 Việt Cộng tấn công Sài Gòn.
Các Lữ Đoàn Dù phải thay phiên nhau tăng phái cho Bộ Tư Lệnh Quân Đoàn III dưới quyền chỉ huy của Trung Tuớng Đỗ Cao Trí để hoạt động chung với Sư Đoàn 25 Bộ Binh Hoa Kỳ cũng như Sư Đoàn 1 Không Kỵ Hoa Kỳ và các Sư Đoàn 18 và 25 Bộ Binh Việt Nam nhằm mở những cuộc hành quân tìm và diệt địch. Bộ Tư Lệnh Hành Quân của Sư Đoàn Dù đặt tại khu chợ mới xây cất; cách tòa hành chánh tỉnh Tây Ninh khoảng hai cây số trong khi Bộ Chỉ Huy Lữ Đoàn 3 Dù do Đại Tá Nam chỉ huy đóng tại khu đất trống cạnh phi trường ở hướng Đông tỉnh Tây Ninh. Các Tiểu Đoàn 1 Dù (tiểu đoàn trưởng là Trung Tá Phạm Hy Mai), Tiểu Đoàn 2 Dù (tiểu đoàn trưởng là Thiếu Tá Trần Kim Thạch), Tiểu Đoàn 7 Dù (tiểu đoàn trưởng là Trung Tá Nguyễn Thế Nhã) và Tiểu Đoàn 8 Dù (tiểu đoàn trưởng là Trung Tá Nguyễn Văn Thọ) lần lượt đặt dưới quyền điều động của Lữ Đoàn 3 Dù. Nhiệm vụ của các đơn vị Dù là mở các cuộc hành quân lục soát ngăn chận sự xâm nhập của các đơn vị Cộng Sản từ Căm Bốt.
Trận Cầu Khởi 1 và 2 - Tây Ninh
Vào khoảng mồng 3 Tết, được tin khẩn cấp một đơn vị cấp tiểu đoàn địch đang tấn công một đại đội Địa Phương Quân tại Cầu Khởi, khoảng 10 cây số Tây Nam tỉnh Tây Ninh. Không đủ thì giờ làm lệnh hành quân, Đại Tá Nam để Trung Tá Mai quyết định cách giải vây. Quen thuộc với lối đánh công đồn đã viện của Cộng Sản, Trung Tá Mai quyết định đánh vào sườn bên phải thay vì tiến từ hướng Nam lên. Tiến lên gần rừng cao su là bắt đầu bị pháo của địch đúng như đã tiên liệu. Đại đội Dù đi đầu, được tập trung lựu đạn từ trước, bắt đầu đánh cận chiến thanh toán địch trong các giao thông hào. Cuộc chiến xảy ra từ 2 giờ trưa cho đến 6 giờ chiều thì tàn quân địch rút lui để lại chiến trường hơn 80 xác chết và một số nhỏ bị thương trong đó có một Y Sỉ Trưởng và một số tương đương vũ khí cộng đồng và cá nhân. Đại đội địch đang bao vây đơn vị địa phương quân được tin đơn vị “đã viện” thất bại nên cũng phải rút lui.
Nữa tháng sau đó, trong khi nghỉ đêm trong khu rừng cao su, TĐ1ND bị khoảng một tiểu đoàn và một đại đội đặc công địch tấn công phục thù. Chẳng may, địch không nắm được một vài yếu tố bất lợi cho chúng là TĐ1ND vừa được tăng phái hai chi đội thiết vận xa M-113 và có sáng kiến hạ các cây cao su chết làm chu vi phòng thủ thay vì dây kẻm gai như vẫn thường dùng. Sau một đêm giao tranh, địch rút lui để lại khoảng 30 xác chết và một số vủ khí tương đương. Sau trận này, TĐ1ND được tuyên dương công trạng trước quân đội và hiệu kỳ tiểu đoàn được gắn thêm 1 ADBT với nhành Dương Liểu.
Trận chiến Bến Gò Nổi - Tây Ninh
Cuối tháng 7-1969, TĐ1ND lại được lệnh thay thế một đơn vị Dù khác tại căn cứ Bến Gò Nổi-Tây Ninh. Vị trí này, chỉ cách biên giới Căm Bốt 7 cây số, đã được dùng như là căn cứ hành quân cấp tiểu đoàn của các đơn vị Dù. Trong hai tuần sau đó, TĐ1ND vừa mở các cuộc hành quân truy lùng vừa cố gắng cũng cố và nới rộng chu vi phòng thủ của căn cứ, tuy nhiên cố gắng này chỉ có kết quả hạn chế vì thiếu vật liệu cũng như các mìn bẩy của các đơn vị trước đã gắn xung quanh căn cứ.
Chiều ngày 13 tháng 8, Đại Đội 12 của Đại Úy Ngoạt được tăng phái tuần tiểu ban đêm trên sông với một đơn vị của Sư Đoàn 1 Không Kỵ. Chỉ còn Đại Đội 11 của Đại Úy Hóa và Đại Đội 14 của Đại Úy Nam ở lại bảo vệ căn cứ. Tại chu vi phòng thủ, đại đội chỉ huy của Đại Úy Triệu ở với bộ chỉ huy tiểu đoàn, khu vực phòng thủ của đại đội 12 trám bằng mìn claymore và một trung đội lấy từ Đại Đội 15 (Đại Đội 15 được dùng bảo vệ TĐ2PB Dù đóng cách TĐ1ND khoảng trên 3 cây số). Vì căn cứ quá nhỏ, từ tuyến phòng thủ phía ngoài vào bộ chỉ huy chỉ có 200 thước.
Khoảng 1 giờ khuya, hai tiểu đoàn Cộng Sản với sự trợ lực của một đại đội đặc công khởi sự tấn công sau khi pháo vào căn cứ khoảng 200 đạn súng cối cũng như súng không giật. Cùng lúc, Cộng Quân đồng loạt pháo kích các căn cứ Hoa Kỳ trong vùng để giữ các đơn vị này ở thế thụ động. Lợi dụng khoảng trống của tuyến phòng thủ giữa hai đại đội 11 và 14, đơn vị đặc công đã dùng bộc phá chọc thủng tuyến phòng thủ phía ngoài. Một đơn vị địch, dẫn đầu bởi các sĩ quan đã xâm nhập chỉ còn cách bộ chỉ huy tiểu đoàn khoảng 30 thước. Đại Úùy Triệu xin soi sáng và yêu cầu TĐ2PB Dù (Tiểu Đoàn Trưởng là Thiếu Tá Nguyễn Văn Tường sau này là CHT/PB Sư Đoàn Dù) bắn đạn nổ chụp lên đầu căn cứ. Vì địch vào lẫn lộn, nên binh sỉ được lệnh nấp kỹ dưới hầm, thấy ai không đội nón sắt là bắn. Ngay Đại Đội 11, bị thương gần một nữa trong đợt tấn công đầu tiên, cũng được lệnh tử thủ tại vị trí.
Hơn nửa giờ sau, máy bay C-47 từ Sài Gòn lên thả trái sáng. Được hơn 1 tiếng đồng hồ thì bị trúng đạn phòng không của địch phải bỏ trận địa bay về Sài Gòn. TĐ2PB Dù phải vừa bắn chiếu sáng và vừa bắn yễm trợ cho đến khi được phi cơ soi sáng của Hoa Kỳ lên thay thế. Binh sỉ TĐ1ND phải đánh cận chiến với địch. Trong hai tiếng đồng hồ sau đó, Đại Đội 14 của Đại Úy Nam đánh xáp lá cà rất ngoạn mục. Đại Đội 11 của Đại Úy Hóa đã trám lại lổ hổng bằng cách dùng lựu đạn thanh toán các toán xâm nhập và nhào vào hố phòng thủ xã đạn bắn chận các đợt xung phong mới của địch. Đại đội chỉ huy của Đại Úy Triệu sau khi triệt hạ 14 địch quân ngay trước hầm chỉ huy, đẩy lui địch và nhảy ra trám chổ trống nơi tuyến phòng thủ của Đại Đội 12.
Đánh nhau tới gần 4 giờ sáng thì TĐ1ND, nhờ soi sáng nên binh sỉ từ dưới hố bắn tỉa từng tên một, dẹp sạch địch trong căn cứ. Các mìn claymore, bải lựu đạn, pháo binh, khu trục, gunship lần lược đẩy địch ở vòng ngoài dù rằng địch đã phối trí 3 vị trí phòng không 12.7 ly để giảm bớt hiệu quả của các trực thăng không yểm. Đến sáng, địch phải rút lui, để lại 89 xác trong căn cứ và hai tên bị thương và đầu hàng quân ta. Một trong hai hàng binh là đại đội trưởng đặc công (Tù binh này đã xác nhận các lực lượng tấn công). Khoảng 10 vủ khí cộng đồng và 39 vủ khí cá nhân cũng như một số bộc phá và súng phóng lựu đạn B-40 nằm vương vải trong căn cứ.
Trong hai đêm kế tiếp, địch xử dụng cấp đại đội để tấn công thăm dò và cố gắng tấn công cấp tiểu đoàn một lần chót vào căn cứ này nhưng không có kết quả. Đại Đội 11, phụ trách tuyến ngoài cùng, đã anh dũng đẩy lui 3 cuộc tấn công này. Trong trận chót, địch để lại 18 tử thi ngay chu vi phòng thủ và khoảng 30 xác ngoài căn cứ.
Sau trận này, hiệu kỳ TĐ1ND được ân thưởng thêm 1 Anh Dũng Bội Tinh với nhành Dương Liểu và huy chương Valorous Unit Citation của tổng thống Hoa Kỳ.
Hành Quân Phối Hợp Với Sư Đoàn 1 Không Kỵ Hoa Kỳ
Cuối năm 1969, Sư Đoàn Nhảy Dù được điều động lên Phước Vỉnh (tỉnh Phước Thành củ) để hành quân phối hợp với Sư Đoàn 1 Không Kỵ Hoa Kỳ. Một sư đoàn Việt Nam và một sư đoàn Hoa Kỳ, mổi sư đoàn gồm 3 Lữ Đoàn. Bộ chỉ huy Lữ Đoàn Việt-Mỹ đóng chung một căn cứ để chỉ huy cuộc hành quân.
Lữ Đoàn Trưởng Việt Nam chỉ huy hai tiểu đoàn Dù Việt Nam và một tiểu đoàn Không Kỵ Hoa Kỳ trong khi Lữ Đoàn Trưởng Hoa Kỳ chỉ huy hai tiểu đoàn Không Kỵ Hoa Kỳ và một tiểu đoàn Dù Việt Nam. Vùng trách nhiệm được chia như sau:
1.Lữ Đoàn 3 Nhảy Dù do Đại Tá Nguyễn Khoa Nam chỉ huy, đóng chung với Lữ Đoàn 1 Không Kỵ Hoa Kỳ do Đại Tá Collins chỉ huy. Bản doanh đặt tại Trảng Lớn, Tây Ninh.
2.Lữ Đoàn 2 Nhảy Dù do Đại Tá Trần Quốc Lịch chỉ huy, đóng chung với Lữ Đoàn 2 Không Kỵ Hoa Kỳ do Đại Tá Mayers chỉ huy. Bản doanh đặt tại Bà Rá, Phước Long.
3.Lữ Đoàn 1 Nhảy Dù do Đại Tá Lê Quang Lưỡng chỉ huy, đóng chung với Lữ Đoàn 3 Không Kỵ Hoa Kỳ. Bản doanh đặt tại căn cứ Barbara thuộc tỉnh Bình Long.
Địa bàn hoạt động của cuộc hành quân phối hợp giữa Sư Đoàn Nhảy Dù Việt Nam và Sư Đoàn 1 Không Kỵ Hoa Kỳ gồm 3 tỉnh: Tây Ninh, Bình Long và Phước Long và bao trùm cả Chiến Khu C và Chiến Khu D của Việt Cộng. Ranh giới bên phải của địa bàn hoạt động trải dài tới tận Bù Đăng-Bù Đốp gần quận Kiến Đức của Vùng 2 Chiến Thuật. Ranh giới bên trái tới tận biên giới Miên-Việt kéo dài xuống quận Gò Dầu Hạ ở phía Nam. Cả 9 tiểu đoàn Dù đều tham dự cuộc hành quân và lần lượt được tăng phái cho 3 Lữ Đoàn Dù, không nhất thiết ở dưới sự chỉ huy của Lữ Đoàn nào mà thay phiên nhau đổi từ vùng nọ sang vùng kia, tùy theo quyết định của Bộ Tư Lệnh Hành Quân của Sư Đoàn Dù. Lực lượng hành quân Việt-Mỹ từ các căn cứ hỏa lực tung ra các cuộc hành quân lùng và diệt địch giới hạn trong lãnh thổ Việt Nam. Tuy nhiên, quân Cộng Sản lợi dụng lãnh thổ Căm Bốt làm hậu cần dưỡng quân, tích trữ tiếp liệu và cứ địa an toàn mổi khi bị lực lượng ta truy kích. Đó chính là lý do đưa đến quyết định cho phép quân lực VNCH và Đồng Minh truy kích địch qua cả lãnh thổ Căm Bốt vào năm 1970.
Cuối năm 1969, Đại Tá Nam được đề cử nhận chức vụ Tư Lệnh Sư Đoàn 7 Bộ Binh, giao Lữ Đoàn 3 Dù cho Trung Tá Nguyễn Văn Thọ.
Phần này được tổng hợp dựa theo ký ức chiến trường của các sĩ quan Dù: Lê Quang Lưỡng, Trần Quốc Lịch, Lê Văn Phát, Nguyễn Thu Lương, Phạm Hy Mai và Trương Dưỡng.