Thành quả hành quân và bình định
Tổng Hợp
Sư Đoàn 7 Hành Khúc
Nhạc: Văn Phụng
Lời: do chính Tướng Nam đích thân sửa chữa
Anh em ta Sư Đoàn 7 Bộ Binh, bao chông gai ta nề chi quyết chiến, quyết chiến đấu loài giặc thù, quyết đấu tranh bảo vệ nơi Tiền Giang, vang sóng Cửu Long.
Anh em ta Sư Đoàn 7 Bộ Binh, vai chen vai ta nề chi quyết chiến, quyết chiến thắng loài giặc Cộng, quyết đấu tranh vì Hòa Bình, tiến, tiến lên để xứng danh anh hùng ...
Điệu kèn vang, nhạc hành quân, khắp núi sông cờ tung bay, ý chí ta can trường, quyết đấu tranh bảo vệ nơi Tiền Giang, vang sóng Cửu Long ...
Sư Đoàn 7 Bộ Binh có trách nhiệm an ninh lãnh thổ Khu Chiến Thuật Tiền Giang gồm các tỉnh Định Tường, Kiến Tường, Kiến Hòa và Gò Công, bốn tỉnh nằm về phía Tây của Thủ Đô Sài Gòn với nhiệm vụ phải bảo vệ một khu vực dân cư đông đúc, một vị trí chiến lược với nhiều trục lộ giao thông thủy bộ nối liền 15 tỉnh miền Tây với thủ đô.
Từ năm 1963 trở đi, Cộng Sản không ngớt đưa quân dụng và vũ khí xâm nhập vào miền Nam. Đã nhiều lần, Sư Đoàn 7 Bộ Binh mở các cuộc hành quân tại hai Mật Khu Hốt Hỏa (Bình Đại) và Thạnh Phong (Thạnh Phú). Cả hai mật khu này đều ở tỉnh Kiến Hòa và Việt Cộng xâm nhập vào bằng đường biển. Tại Kiến Tường, Việt Cộng xâm nhập bằng đường bộ qua Mật Khu Mỏ Vẹt nằm trong lãnh thổ Kampuchea để bổ sung cho các đơn vị ở miền Nam. Tại Khu Chiến Thuật Tiền Giang, Cộng Sản đã bố trí rất nhiều đơn vị như các Trung Đoàn Đồng Tháp 1 và 2, các Tiểu Đoàn 261, 263, 514, chưa kể các lực lượng địa phương của tỉnh, huyện và du kích xã. Địch đặt rất nhiều đơn vị đặc công bám sát Quốc Lộ 4 và Kinh Chợ Gạo để đánh phá các đồn bót, phá đường, giật sập cầu, bắn vào tàu hay xe, gài mìn trên lộ, nhằm cắt đứt các trục giao thông, gây xáo trộn và khó khăn cho việc giao thông từ miền Tây về Sài Gòn và ngược lại.
Trước khi đáo nhậm đơn vị mới, Đại Tá Nguyễn Khoa Nam đã xin ý kiến của cấp chỉ huy cao hơn, nghiên cứu thực trạng, ưu khuyết điểm của Sư Đoàn 7. Những quyết định tức khắc đã được đưa ra cho bộ tham mưu và các đơn vị trưởng nhằm phục hồi khả năng chiến đấu của đơn vị:
1. Di chuyển bản doanh Bộ Tư Lệnh Sư Đoàn từ Mỹ Tho vào Đồng Tâm. Để thể hiện tư thế sẵn sàng chiến đấu, quân nhân các cấp của sư đoàn, tham mưu hay tác chiến, vũ khí bên mình, đội nón sắt hai lớp, xe jeep đều được tháo mui. Đặc biệt, Đại Tá Nam còn độc thân nên ông bỏ hết thì giờ trong việc theo dõi các cuộc hành quân nên luôn luôn có phản ứng kịp thời trước các tình huống nguy hiểm.
2.Trao dần cho các Tiểu Khu trách nhiệm an ninh lãnh thổ. Việc bảo vệ thành phố trao lại cho địa phương quân và lực lượng cảnh sát để các đơn vị chính quy rảnh tay hành quân diệt địch.
3. Các khu, chi An Ninh Quân Đội được lệnh đặt ưu tiên hàng đầu trong việc theo dõi và phá vỡ hạ tầng cơ sở cũng như chiêu hồi các cán binh địch. Công tác đề phòng nội tuyến cũng được đặt lên hàng đầu để nâng cao tinh thần các cấp chỉ huy cũng như binh sĩ trong lúc hành quân cũng như lúc về hậu cứ. Trong 4 tỉnh Tiền Giang, hạ tầng của địch rất là mạnh nhất là tỉnh Kiến Hòa nên cố gắng tách địch ra khỏi dân, tránh gây thiệt hại cho dân càng nhiều càng tốt được xem là ưu tiên hàng đầu. Các đơn vị chiến đấu nhận được chỉ thị nghiêm nhặt là không có một hành động gì làm mất lòng dân.
4. Đẩy mạnh các cuộc hành quân cấp trung đoàn. Trao cho các trung đoàn nhiều trách nhiệm hơn và sử dụng, khai thác tiềm năng của các cấp chỉ huy. Giúp các đơn vị chiến đấu phát huy sáng kiến, dành cho các đơn vị một số tự do hành động. Thay dõi mặt mạnh mặt yếu của các đơn vị trực thuộc bằng cách vừa uốn nắn vừa khuyến khích. Chỉ một thời gian ngắn, một số đơn vị yếu về tác chiến và điều hành đã từ từ vươn lên và đổi thay trông thấy. Địa hình các tỉnh Tiền Giang toàn là sông rạch nên trong mùa nước lớn, việc chuyển quân của địch phần lớn dựa vào các ghe xuồng. Các đơn vị trưởng được chỉ thị tận dụng không thám, phân tích màu nước để theo dõi sự di chuyển dọc theo các trục xâm nhập và dùng phi pháo và các đơn vị trinh sát để tiêu diệt địch.
5. Phối trí chặt chẽ giữa pháo binh Sư Đoàn và pháo binh diện địa theo hệ thống hàng ngang bao trùm toàn thể lãnh thổ, không cần chờ lệnh Sư Đoàn. Mỗi lần các tiểu đoàn bộ binh hành quân là các khẩu đội của tiểu khu phải hướng nòng súng để sẵn sàng yểm trợ và pháo binh sư đoàn cũng phải sẵn sàng để yểm trợ tiểu khu bất cứ lúc nào.
6. Lấy lại thế chủ động trên chiến trường về ban đêm, bước đầu bằng những thí điểm. Rút ưu khuyết điểm, sau đó phát triển ra cho các tiểu đoàn thực hiện. Ông cổ võ hành quân đêm, kế hoạch phải cụ thể, tổ chức nhân sự, tinh thần, trang bị hỏa lực gọn nhẹ, thông tin liên lạc hữu hiệu. Nhờ kế hoạch này, có những vùng ban đêm trước đây bị bỏ trống cho địch thì nay Việt Cộng đã rơi vào thế bị động. Đã có lần, quân ta mai phục vào ban đêm, tấn kích bất ngờ vào Bộ Chỉ Huy Tỉnh Ủy Mỹ Tho của địch, gây thiệt hại nặng nề trong lúc chúng đang họp. Sau chiến thắng này, vị tiểu đoàn trưởng được Bộ Tổng Tham Mưu cho đi du ngoạn Đài Loan.
7. Nhắc các đơn vị tránh những thói quen tai hại khi di chuyển cũng như khi dừng quân hay đóng quân. Các đơn vị thường duy trì lối cũ, đi hành quân theo lối mòn. Như thế dần dần mất đi tính linh hoạt, ngày nào cũng như ngày nấy. Do đó, Việt Cộng dò biết và phục kích gây cho ta tổn thương. Một đôi khi, đơn vị ta khi dừng quân mà bị thương vong nhiều hơn lúc đi hành quân. Nguyên nhân là sau một ngày hành quân, binh sĩ ta hay mắc võng, mở radio nghe nhạc. Vì thiếu cảnh giác, không đào hố cá nhân, không có vị trí phòng thủ nên bị địch pháo kích gây tổn thất về nhân mạng. Nhiều lần, trong các buổi họp, một câu mà Thiếu Tướng Nam thường hay nhắc nhở các tiểu đoàn trưởng và đại đội trưởng là: “Binh sĩ của ta sợ mệt mà không sợ chết. Các ông phải biết bảo vệ sinh mạng của lính, phải tổ chức phòng thủ khi hành quân.”
8. Khích lệ thuộc cấp: Khi trao trách nhiệm cho các đơn vị trưởng, ông để cho họ có tự do hành động miễn đừng đi ra ngoài phạm vi quy định. Khi đơn vị chạm địch, ông chỉ nghe trên hệ thống truyền tin, gặp lúc gay cấn, cần thanh toán mục tiêu, ông cho tăng cường hỏa lực yểm trợ và có lúc ông nói trong máy rất gọn: “Trừng trị! Trừng trị!” Chỉ ngắn vậy thôi nhưng hai từ đó nó có tác dụng như tiếng kèn thúc quân. Các đơn vị lăn xả vào mục tiêu và thường là thành công. Ông đôi khi áp dụng khoa tâm lý. Gặp mục tiêu khó, trước khi xuất quân, ông chỉ vào bản đồ và nói với các đơn vị hành quân: “Mục tiêu này khó. Làm nổi không?” Ông nhìn đối tượng, mỉm cười vừa thân mật vừa “khích tướng”. Các tiểu đoàn trưởng, phần nhiều trẻ tuổi, giàu tự ái, đâu có chịu lùi bước. Như được kích thích, các cậu hăng hái lắm và đạt mục đích.
9. Chăm sóc binh sĩ: Ông rất mực quan tâm đến tinh thần binh sĩ. Muốn cho binh sĩ an tâm chiến đấu, cấp chỉ huy phải quan tâm đến đời sống của họ và gia đình họ. Trong các buổi họp tham mưu, ông luôn luôn nhắc nhở các bộ phận yểm trợ và các đơn vị trưởng là binh sĩ – nhất là binh sĩ đang chiến đấu ở mặt trận – phải là mục tiêu chăm sóc hàng đầu. Đừng để binh sĩ phải thiếu thốn về quân trang, quân lương. Ông thường nói đùa, nhưng đó là sự thật: “Một tiểu đoàn lính di chuyển, bốn tiểu đoàn vợ con đi theo.” Để tránh tình trạng bận bịu thê nhi này, ông yêu cầu các đơn vị trưởng và bộ tham mưu đồng loạt chấn chỉnh sinh hoạt tại các trại gia binh. Khi gia đình binh sĩ có nơi ăn chốn ở ổn định, người lính mới an tâm chiến đấu. Trong một thời gian ngắn, các khu gia binh Đồng Tâm, Bình Đức, Bến Tre đã đi vào quy củ: có trường học, có nhà giữ trẻ, có y xá, có nơi thờ phượng. Nhờ sự cố gắng không ngừng của khối Chiến Tranh Chính Trị, hội Bảo Trợ Gia Đình Binh Sĩ, các phòng Tuyên Úy, phòng Xã Hội, phòng 4, các gia đình cư ngụ trong trại gia binh đã có những tiện nghi như giường ngủ và bàn ghế (ván lấy ở thùng đạn 105 ly), có điện, có nước, có nhà vệ sinh công cọng, có mảnh đất nhỏ trồng rau nuôi gà. Ông nhắc nhở khối Chiến Tranh Chính Trị, ngoài ngân khoản chính phủ cấp cho trại gia binh, nên cố gắng xin các Mạnh Thường Quân yểm trợ cho mỗi trại gia binh có một trường trung học, có trường dạy nghề, có trại thủ công để thu hút số nhân công nhàn rỗi là vợ con binh sĩ. khi ông được thăng cấp Chuẩn Tướng, ông được chính phủ cấp cho một ngân khoản. Tổng hành dinh trình lên ông số tiền đó, ông bảo đem tặng cho hội Bảo Trợ Gia Đình Binh Sĩ. Vào những ngày lễ lớn, đặc biệt vào dịp Tết, khối Chiến Tranh Chính Trị phải chuẩn bị từ trước, xin quà Tết cho binh sĩ và gia đình họ. Các Trưởng Phòng được phân công đến ngay các tiểu đoàn để cùng vui xuân với anh em binh sĩ trong suốt ba ngày Tết. Lúc đầu, các sĩ quan tham mưu cảm thấy miễn cưỡng vì mất dịp vui Tết với vợ con, nhưng sau đó mới thấy điều hay. Nhờ vậy, trong lúc đón Giao Thừa với anh em binh sĩ ngay tại mặt trận, mọi người mới cảm thông được tâm tình của người lính xa nhà giữa lúc thiên hạ nô nức đón Xuân.
10. Kế hoạch dưỡng quân và huấn luyện: Vốn có tính nhân ái, ông rất thương lính. Thuộc cấp có những lúc lầm lỗi, ông khuyên bảo, thuyết phục, uốn nắn. Ông tin rằng con người, dù sai trái đến đâu, vẫn còn nhất điểm lương tâm. Do đó, không khi nào ông quát tháo hoặc dùng lời lẽ nặng nề với thuộc cấp. Đức độ, khoan dung, tôn trọng công chính và tình thương của ông đã thu hút sự kính phục của binh sĩ các cấp. Các tiểu đoàn đều lần lượt về hậu cứ để nghỉ ngơi, bổ sung quân số, quân trang, quân dụng và tái huấn luyện. Ông rất chú trọng về vấn đề huấn luyện và Sư Đoàn 7 đã đầu tư rất nhiều vào vấn đề huấn luyện, từ việc gởi người đi thụ huấn các quân trường cho đến việc huấn luyện tại đơn vị. Ông quan niệm con người phải học hỏi hoài để tiếp thu cái mới, nếu không tài năng sẽ cạn mòn và chẳng bao lâu sẽ bị lỗi thời.
Thành Quả
1. Trong những năm 1970, 1971, các cuộc hành quân Cửu Long được liên tiếp tung ra để phá vỡ hạ tầng cơ sở của địch trong hai tỉnh Kiến Hòa và Vĩnh Bình. Đến năm 1972, tình hình trở nên rất nặng tại Vùng 1, 2 và 3. Công Trường 5 Cộng Sản sau khi bị thiệt hại nặng nề tại An Lộc, đã được tái bổ sung và bất thần xâm nhập Kiến Tường. Ba Trung Đoàn 10, 11, 12 của Sư Đoàn 7 Bộ Binh đã được điều động kịp thời chận đứng âm mưu chiếm các tỉnh Kiến Tường và Kiến Phong. Những cuộc giao tranh đẫm máu kéo dài từ tháng 6 cho đến tháng 11, 1972 tại Kompongrou thuộc Kampuchea, Kiến Tường, Kiến Phong, Định Tường đã loại gần 3,000 địch quân ra khỏi vòng chiến khiến cho Công Trường 5 Cộng Sản bị bất động trong một khoảng thời gian khá lâu. Năm 1973, Hiệp Định Ba Lê ra đời, cuộc chiến rẽ qua một khúc quanh khác. Quân Đồng Minh rút khỏi chiến trường Việt Nam và ngoại viện ngày càng giảm trong khi quân Bắc Việt, với sự viện trợ của Nga Sô và Hoa Lục, ào ạt đưa thêm quân ra sức đánh phá, chiếm đất dành dân. Quân ta, chính quy, địa phương quân, nghĩa quân, dù thiếu thốn mọi mặt, đã có những nỗ lực vượt bực trong các cuộc hành quân bình định khiến cho Việt Cộng bị thất bại trong kế hoạch chiếm đất dành dân.
2. Năm 1969, Sư Đoàn 7 Bộ Binh được mang giây biểu chương màu Bảo Quốc Huân Chương với sáu lần tuyên dương công trạng trước Quân Đội sau khi Thiếu Tướng Nguyễn Viết Thanh rời Sư Đoàn để nhậm chức Tư Lệnh Quân Đoàn IV. Sau 3 năm dưới quyền chỉ huy của Tướng Nguyễn Khoa Nam, Sư Đoàn 7 Bộ Binh được tuyên dương công trạng trước Quân Đội thêm ba lần nữa và được mang giây biểu chương màu Tam Hợp. Có thể nói sau Sư Đoàn Dù và Sư Đoàn 1, Sư Đoàn 7 Bộ Binh là một trong những đại đơn vị bộ binh đầu tiên được mang dây biểu chương này. Trong những lần lượng giá hàng năm tại Bộ Tổng Tham Mưu, Sư Đoàn 7 Bộ Binh được xếp rất cao, ngang ngửa với Sư Đoàn Dù và Thủy Quân Lục Chiến. Có điều là báo chí thời ấy rất ít viết về Sư Đoàn 7 Bộ Binh vì Tướng Nam đã chỉ thị bộ tham mưu và các trung đoàn trưởng rất nghiêm nhặt về vấn đề tiếp xúc với báo chí.
3. Hầu hết các sĩ quan trung đoàn trưởng và tiểu đoàn trưởng đều được thăng cấp đặc cách tại mặt trận ít nhất hai lần. Riêng Tướng Nam đã được thăng cấp đặc cách tại mặt trận 4 lần từ Đại Tá lên Thiếu Tướng thực thụ trong vòng 4 năm. Tính đến ngày 10 tháng 5 năm 1973, 71 sĩ quan thuộc Sư Đoàn 7 Bộ Binh được ân thưởng huy chương ngoại quốc.
Bài Viết Của Sử Gia Hoa Kỳ Bill Laurie Về Sư Đoàn 7 Bộ Binh
Bill Laurie là sử gia Hoa Kỳ, một trong những chuyên gia nghiên cứu về Việt Nam và nhân chứng được mời trình bày quan điểm trong cuộc hội thảo mang tên “Quân Đội Việt Nam Cộng Hòa: Suy ngẫm và tái thẩm định sau 30 năm” (ARVN: Reflections and Reassessments after 30 years) do Trung Tâm Việt Nam thuộc đại học Texas Tech tổ chức tại Lubbock trong hai ngày 17 và 18 tháng 3 năm 2006.
Trong số nhiều diễn giả Việt-Mỹ, ông Laurie là người nêu ra quan điểm trung thực và thẳng thắn nhất của riêng ông về một quân đội mà ông từng sát cánh với cương vị một chuyên viên tình báo cao cấp trong nhiều năm, song song với những ý kiến không quanh co che đậy về giới truyền thông và chính trị Hoa Kỳ trong thời chiến tranh tại Việt Nam. Sau đây là phần dịch thuật những đoạn nói về Sư Đoàn 7 Bộ Binh:
“..... Cũng chẳng ai nói với tôi là Sư Đoàn 7 Bộ Binh VNCH, cái đơn vị mãi bị kết tội vì khả năng chiến đấu kém cỏi ở Ấp Bắc nhiều năm trước, đã biến thái thành một đơn vị có hiệu năng chiến đấu cao dưới tài lãnh đạo chỉ huy của Tướng Nguyễn Khoa Nam, một con người thanh liêm không một tì vết, song song với tài năng về chiến thuật, mà đến nay vẫn không hề được công chúng Hoa Kỳ biết tới, tuy đã được người Việt Nam tôn sùng đúng mức .....”
“ ..... Ở miền Nam, trong lãnh thổ tỉnh Định Tường thuộc quân khu IV, Sư Đoàn 7 Bộ Binh VNCH cũng thi hành nhiệm vụ không hề có khuyết điểm, theo lời xác nhận của các cố vấn và các phi công Mỹ lái trực thăng chuyển quân cho các binh sĩ Sư Đoàn 7 trong những trận tấn công. Sư đoàn này từng bị mang tiếng là sư đoàn “lùng và né” (thay vì “lùng và diệt”, “search and destroy”), có thể vì trận Ấp Bắc hồi 1963, nhưng những ai trực tiếp công tác với họ không thể nói gì hơn là những lời ca tụng, ngưỡng mộ về sự tinh thông chiến thuật và tinh thần hăng hái xông xáo. Một cựu cán binh Bắc Việt xác nhận về sự dũng cảm của Sư Đoàn 7 Bộ Binh:
“Vùng giải phóng bị thu hẹp... Tôi mất thêm thời gian di chuyển quanh, cố tránh xa các cuộc hành quân của quân đội VNCH. Ở Bến Tre (tức tỉnh Kiến Hòa) Sư Đoàn 7 VNCH là lực lượng chính gây nên nhiều khó khăn. Hầu hết sư đoàn được tuyển mộ ở vùng châu thổ sông Cửu Long nên họ biết rành hết cả vùng. Họ thông thuộc vùng này cũng như chúng tôi”. (Tác giả trích dẫn David Chenoff và Đoàn Văn Toại, sách Chân Dung Kẻ Địch, Random House ở New York xuất bản năm 1986).
Tình hình còn tồi tệ hơn khi các đơn vị quân đội Bắc Việt điền khuyết cho các đơn vị “Việt Cộng”, không hiểu biết chút nào về vùng này và được trang bị kém cho cuộc chiến kiểu các rặng cây ở phía Bắc vùng châu thổ. Một tù binh cho biết bị bắt sống không bao lâu sau khi tới, lúc anh ta và những người khác được lệnh phục kích một cuộc hành quân càn quét của Sư Đoàn 7 vào ngày hôm sau. Bố trí xong trước bình minh, đội quân đáng lẽ phục kích người ta thì lại bị tấn công từ phía sau do thành phần bên sườn của Sư Đoàn 7, trước khi tới lượt lực lượng chính.
Kết quả của điều này thêm hiển nhiên trong thời gian giữa 1968 và 1971, thời kỳ mà quân số lực lượng Hoa Kỳ giảm thiểu hơn một nửa, trong khi những cuộc hành quân tấn công của Việt Cộng và quân Bắc Việt lại bị suy giảm rõ rệt. (Bảng thống kê trong bài ở đoạn này cho thấy lực lượng Mỹ ở Việt Nam từ năm 1968 đến 1971 đã giảm 322 ngàn quân, tức 58%, các cuộc tấn công của Việt Cộng và quân Bắc Việt cấp tiểu đoàn trở lên giảm 98%, chỉ còn 2 trận, những cuộc tấn công lẻ tẻ của phía Cộng Sản cũng giảm, kể cả những vụ bắt cóc, khủng bố, trong khi số xã ấp có an ninh tăng 56%, diện tích trồng tỉa lúa tăng 9,8%, thương vong vì chiến tranh của dân và quân phía VNCH giảm 55%, quân số của Việt Cộng, Bắc Việt trên toàn miền Nam giảm 21%).
Tỉ lệ về các cuộc tấn công lớn nhỏ của phía Cộng Sản giảm hơn là tỉ lệ giảm quân số, cho thấy một sự sa sút toàn diện về khả năng quân sự, dưới tỉ lệ dự đoán là 21% quân số sụt giảm. Điều này xảy ra trong khi quân số tham chiến của Hoa Kỳ giảm tới 58%. Quân Cộng Sản Bắc Việt và Việt Cộng không những chỉ có mặt ít hơn trên toàn lãnh thổ, mà còn kém khả năng tung ra những cuộc hành quân tấn kích .....”