Bài Viết
Nguyễn Khoa Nam
Chủ Trương: Nguyễn Mạnh Trí
Kỹ Thuật: Nguyễn Khoa Danh
Viên Giác Đại Sư
Chùa Ba La Mật ở Huế

Nguyễn Khoa Phồn Anh
Bố Chánh Sứ Nguyễn Khoa Luận

Du khách đến xứ Huế, đọc thơ của thi sĩ Thanh Tịnh ca tụng vẻ đẹp - đẹp thanh thản như cô gái Huế - của Vĩ Dạ dọc bờ sông Hương, không thể không đến viếng vùng ngoại ô này của đất Thần Kinh. Nhưng trên đường Thuận An sát ven sông, nếu đi quá thôn Vĩ chỉ vài trăm thước, sang ấp Tây Thượng, qua khỏi một khúc đường cong, du khách thấy mình đến trước cổng từ đường trang nghiêm của tộc Nguyễn Khoa. Nơi đây hàng năm vào mùa Thu, trong tháng Bảy Âm lịch, con cháu họ Nguyễn Khoa xa gần về tụ họp làm lễ cúng tế gia tiên, gọi là lể Thu Tế. Bên cạnh nhà thờ họ này, du khách lại thấy một ngôi chùa xinh xắn, luôn luôn được trùng tu kỹ càng. Từ cổng chùa vào đến chính điện, du khách phải qua một con đường dài gần hai trăm thước. Trước cổng chùa và trước cửa chính điện có tấm biển sơn son thếp vàng ghi tên chùa “Ba La Mật Tự”.
    Chùa Ba La không lấy gì làm đồ sộ, nhưng có sự tích lý thú mà trải qua một thế kỷ rưởi và bốn thế hệ, còn được các hòa thượng và thượng tọa liên tiếp trụ trì tại Chùa cho đến ngày nay. Sư tổ chùa Ba La Mật là ngài Thiên Chơn Viên Giác Đại Sư. Ngài có nhiều đệ tử nổi danh về sau, trong đó có hòa thượng Thích Viên Thành (thuộc đời thứ nhì) và hòa thượng Thích Trí Thủ (thuộc đời thứ ba). Hòa thượng Thích Trí Thủ về sau cáng đáng phật sự toàn quốc, giao việc cai quản chùa Ba La lại cho đệ tử là thượng tọa Thích Đức Tâm, kế đến là thượng tọa Thích Đức Trí, để sau cùng về ở luôn tại chùa Già Lam, ngoài đô thành Sài Gòn, ở Gò Vấp thuộc tỉnh Gia Định.
    Nhưng sự tích của chùa Ba La kỳ thú trong giai đoạn thành lập hơn là trong thời kỳ cận đại của ngôi chùa.

Dặm trường
    Chiều xế tàn. Mặt trời xuống thấp trên rặng núi xa xa đầy mây phủ. Hai thầy trò đã ra khỏi làng Kim Luông, phía Nam kinh thành, đi giữa rừng thưa, chỗ tối chỗ sáng, trông đẹp mờ ảo như bức tranh nhưng về chiều có thêm vẻ ảm đạm. Hai người bước chậm rãi, tránh từng lùm cây từng hốc đá, mỗi người theo đuổi một luồng tư tưởng riêng. Thầy cảm thấy lòng thơ thới như vừa trút được một phần gánh nặng ưu tư ở đời, tuy vẫn còn gợn thắc mắc, không hiểu ngày mai sẽ ra sao. Trò cũng cảm thấy lâng lâng như đang làm một chuyện gì thích thú hoặc hữu ích, mặc dầu lo nghĩ đến mẹ già ở tận quê làng, phó thác cho người em gái trông coi.
    “Thầy” đây là một vị quan trong triều đình Huế, làm đến chức Thị Lang trong Bộ Học (ngày nay gọi là Bộ Giáo Dục), người mà vài năm sau cả xứ Thuận Hóa nghe danh và kính cẩn nhắc đến bằng danh hiệu Cụ Ba La hoặc Ngài Ba La. Người ta dùng danh hiệu đó vì ngôi chùa Cụ lập ra ở ấp Tây Thượng, phía Bắc làng Vĩ Dạ, được đặt tên là chùa Ba La Mật.
    “Trò” đây là Đào, chú lính lệ, sanh trưởng ở thôn quê cách xa thành phố Huế chừng 60 cây số. Chú là người ít học, có lẽ vì nhà nghèo, nhưng rất sáng dạ cho nên được cụ Thị Lang Nguyễn Khoa Luận, tức là cụ Ba La sau này, thương mến và xem như là con cháu trong nhà hơn là một người lính hầu cận, và đem theo để trông coi mọi việc trong tư thất từ khi triều đình Huế bổ nhiệm Cụ ra làm quan Bố Chánh tỉnh Thanh Hóa. Vài năm sau, Cụ được triệu về kinh thành làm Thị Lang Bộ Học, và chú cũng theo về.
    Cụ trở về kinh đô vào thời vua Hiệp Hòa vừa mới nối ngôi vua Tự Đức. Mọi việc triều đình đều do hai vị đại thần chuyên quyền thao túng, trong khi nước Pháp bắt đầu đặt nền đô hộ ở Huế, tiếp tục yêu sách và hống hách với chính phủ Hoàng Triều. Về Triều chỉ mới được ba tháng thì Cụ quyết định treo ấn từ quan, cùng chú lính lệ tín cẩn lặng lẽ ra đi ...
    Cụ đã chán nản muốn từ quan ngay hồi mới trở về kinh đô, vì trông thấy hoàn cảnh nước nhà tan tác mà cả Triều Thần, văn cũng như vỏ, không còn cách gì để cứu vãn. Các bạn đồng liêu khuyên can mãi, bảo rằng nếu Cụ từ quan ngay lúc này thì quân Pháp biết là Cụ có tinh thần chống đối nền đô hộ của chúng và chúng sẽ để ý hãm hại. Và nếu Cụ bỏ kinh thành ra đi trong lúc này, chúng sẽ nghi là Cụ sẽ dấy động phong trào Cần Vương chống Pháp, và tất nhiên chúng sẽ truy lùng để giam giữ. Họ khuyên Cụ thử chờ đợi một biến chuyển mới trong thời thế để tìm cách tái lập chủ quyền Việt Nam một cách êm đẹp. Cụ cố gắng ẩn nhẫn nhưng tâm tư ngày thêm nặng trĩu và ba tháng sau, Cụ nhất quyết bỏ kinh thành ra đi trên bước đường vô định. Đào, chú lính lệ trung thành, cảm mến ân đức của Cụ trong bao năm qua, năn nỉ xin được tiếp tục theo hầu dầu Cụ có đi đến chân trời góc biển nào.

Bối cảnh tang điền
    Cụ Ba La, biệt hiệu là Văn Từ, sanh năm 1834 dưới thời vua Minh Mạng, và ra làm quan trong triều đại vua Tự Đức, một vị vua được coi là hay chữ nhất đời nhà Nguyễn. Năm 1867, vì quân Pháp thất hứa, chiếm đóng ba tỉnh Vĩnh Long, An Giang và Hà Tiên. Cụ Phan Thanh Giản, thượng thư Bộ Lại, quyết định tuẫn tiết. Trước khi uống thuốc độc, cụ Phan Thanh Giản không quên dặn con cháu phải lo canh tác mà sinh sống chứ không được ra hợp tác với nền đô hộ của Pháp ở đất Nam Kỳ. Sự việc này có ảnh hưởng sâu đậm trong tâm tư cụ Ba La, lúc ấy đang mang tâm huyết của tuổi trẻ (mới 33 tuổi) và đang làm quan tại Triều. Sau đó, lúc Cụ gần ngũ tuần, vua Hiệp Hòa vừa mới lên ngôi, thì Pháp tấn công từ cửa Thuận An để uy hiếp kinh thành, rồi ép buộc triều đình Huế phải ký hòa ước Quý Mùi (1883). Biến chuyển này làm cho Cụ càng thêm bất mãn về quốc sự và chán nản thế sự.
    Vua Thiệu trị nối ngôi vua Minh Mạng chỉ được bảy năm. Vài tháng sau, khi chiến thuyền Pháp bắn phá Đà Nẵng, vua Thiệu Trị băng hà. Vua Tự Đức lên ngôi năm 1847, mới 19 tuổi, lúc tình trạng giao dịch với người Pháp trở nên gay cấn hơn bao giờ. Phần lớn cuộc đời của Ngài Ba La kéo dài dưới triều đại Tự Đức, một triều đại gặp lắm biến động và nhiễu nhương. Biến động vì nhà vua trị vì vào thời đại các nước Âu Châu đang tìm cách đặt thuộc địa ở Á Châu để mở mang các đường giao thương và các căn cứ mậu dịch. Riêng nước Pháp thì lấy cớ các nhà truyền giáo Âu Châu bị cấm chỉ và hành hạ để xâm chiếm lãnh thổ và chủ quyền Việt Nam.
    Triều đại Tự Đức lại gặp nhiễu nhương vì giặc giã không ngừng khắp mọi nơi. Ở ngoài Bắc, con cháu nhà Lê, và cả những người chẳng phải thân thích nhà Lê, mượn danh nghĩa trung hưng để nổi loạn và khuấy động. Giặc Thái Bình bên Tàu bị truy lùng chạy về mạn thượng du Bắc Việt để ẩn náu và quấy phá. Quan quân nhà Thanh, mượn cớ đánh đuổi giặc cướp Thái Bình, vượt qua biên giới để cướp bóc các làng mạc Việt Nam. Ngay tại kinh thành, một số quan chức tạo phản, âm mưu lập phế tử Đinh Đạo lên làm vua để mong được nắm quyền triều chính, nhưng bị phát giác và tiêu diệt. Sự tạo phản này có các giáo sĩ ngoại quốc can dự làm vua Tự Đức tức giận và cấm chỉ đạo Thiên Chúa gắt gao hơn trước.
    Vua Tự Đức, cũng như tiên đế là vua Minh Mạng, lại còn gặp nhiều điều phỉ báng. Các nhà truyền giáo người ngoại quốc thời bấy giờ, nhất là Pháp và Y Pha Nho, bất mãn vì thấy giáo dân bị đàn áp, trong các phúc trình gởi về nước và trong các tài liệu đương thời, mô tả vua Tự Đức là một bạo quân xảo quyệt. Nhưng chỉ xét lối cung xử hiếu đễ tuyệt đối của vua Tự Đức đối với mẫu hậu (Đức Từ Dụ), như Tổng Đốc Thân Trọng Huề hồi đó có ghi chép, cũng đủ chứng tỏ nhà vua không thể là một người hung bạo và xảo quyệt. Ngày nay, sau khi khách quan xét lại các diễn biến, vài sử gia Tây Phương đồng ý là trong thời đó chỉ có một số tương đối ít nhà truyền giáo ngoại quốc bị hành quyết, nhưng những hành động áp chế này được một số người lợi dụng khai thác  để khuấy động chính trị ở Âu Châu, cố tạo sự ủng hộ nội quốc cho ý đồ bành trướng thương mãi và can thiệp chính trị tại Á Châu, và riêng tại Hải Phòng, Đà Nẳng, Hội An và Sài Gòn tại Việt Nam.
    Chẳng qua là triều đình thời ấy thiển cận ít giao dịch với bên ngoài, chỉ nhìn thấy trước mắt sự đe dọa của một giáo lý mới mà họ lầm tưởng là có thể làm lũng đoạn nền móng xã hội Việt Nam, kể cả trật tự và quyền hành của Triều Đình và Quân Vương. Ngược lại, cũng trong thời đó, vua nước láng giềng Xiêm La khéo léo thông giao đồng đều với các nước Tây Phương, dùng nước này cản chân nước kia, cho nên bảo vệ được nền độc lập của quốc gia trong một giai đoạn rất là khó khăn của lịch sử Á Châu, mãi cho đến thời Đệ Nhị Thế Chiến mới bị quân đội ngoại bang là Nhật Bổn chiếm đóng. Thật ra, chính vua Tự Đức cũng lượng thế nước quá yếu trước nền văn minh cơ giới Tây Phương, và có nhiều lần tỏ ý hòa hoãn và muốn hòa đàm với Pháp, nhưng nhiều sự việc bất ngờ xẩy ra làm cho dự tính của nhà vua không thực hiện được. Các biến cố lịch sử xẩy ra cuối cùng đem lại nền đô hộ của Pháp trên nước Việt từ cuối triều đại Tự Đức. Cũng dưới triều đại Tự Đức, cụ Thị Lang Nguyễn Khoa Luận, như kể trên, bắt đầu chán thế cuộc, phần lớn vì thấy quốc gia bất lực trước tình thế nát tan, cho nên từ bỏ quan tước và sống đời ẩn dật trước khi hoàn toàn xuất tục.

Đá Vô Sanh
    Trò đang đi trước, bỗng dừng chân quay lại chắp tay nhìn Thầy và hỏi:
- Bẩm Cụ, trời sắp tối rồi. Cụ cho con thổi cơm và giăng võng để Cụ nằm nghĩ, hay là Cụ muốn đi nhanh hơn để ra khỏi khu rừng này trước khi trời tối?
Không cần suy nghĩ, Thầy nói ngay:
- Tốt hơn là ta nên tiến bước, vì khu rừng này nổi tiếng là có cọp dữ. Ra ngoài kia hẳn phải có làng mạc. Ít nhất phải có vài nhà tiều phu đâu đây, vì ta thấy trong khu rừng này có nhiều cây bị đốn ngã chỉ còn gốc.
Ngưng một giây, Thầy thong thả nói tiếp:
- Sắp đến làng mạc, ta dặn con lại một lần nữa. Ta không còn giữ chức tước triều đình, con không được gọi ta là Cụ như trước nữa. Trên đường tu hành, ta với con là thầy trò đồng hành, tốt hơn cả con cứ gọi ta là thầy.
Chú lính lệ sợ hãi, khoanh tay thưa:
- Bẩm Cụ, con không dám. Làm như thế, con mắc tội hỗn xược. Con ngu dốt, đâu dám làm học trò của Cụ.
Thầy nghiêm giọng, nửa trách móc, nửa la mắng:
- Đào, khi bằng lòng cho con đi theo, ta đã dặn dò con rồi, con không nhớ sao? Ta không muốn những tên do thám của Tây nghi ngờ và dò ta tìm biết ta là ai. Ta phải ăn mặc theo lối dân giả, và con không được mặc áo bào khi đi đường là vì vậy. Vả lại, bắt đầu từ ngày mai con sẽ là học trò thực thụ của ta vì ta sẽ dạy cho con học vỡ lòng. Con thông minh, vừa đi ta sẽ giảng giải và đến lúc nghĩ ta sẽ viết lên giấy cho con học ... Nào ta đi mau ra khỏi nơi này.
    Hai thầy trò bước nhanh hơn trước. Thỉnh thoảng Đào phải dùng lưỡi mác để chặt những cành cây chìa ra trước đường đi. Nhưng cả một giờ sau thầy trò cũng chẳng thấy bóng dáng làng mạc nào trong khi trời đã nhá nhem tối. Bỗng Đào đưa mũi mác chỉ về phía trước mặt, bên trái và nói:
- Bẩm Cụ ... Bẩm Thầy, nơi kia có ngọn tháp. Chắc là ngôi chùa hay lăng mộ gì đây.
Hai người rảo bước về phía đó. Hai mươi phút sau, một khu lăng tẩm khá lớn hiện ra trước mặt. Thầy vỗ trán nói:
- Ta nhớ rồi. Đây là lăng tẩm do đức Thế Tổ Gia Long cho xây để chôn cất chiếc sọ của phụ thân mà Ngài tìm thấy được sau khi chiến thắng Tây Sơn. Thôi, trời đã tối, ta tạm qua đêm nay ở đây cũng tốt.
    Đào bỏ gánh quầy trên vai xuống và bước ra khe nước gần đó để múc nước về nấu cơm tối. Thầy đi bách bộ trên sàn gạch, suy ngẫm về tình thế nước nhà, lòng cảm thấy bồi hồi và bực dọc ... Đào trải một chiếc khăn trên mặt sàn gạch, bày nồi cơm và dĩa thịt kho rồi mời Thầy dùng cơm tối. Thầy bảo:
- Đào, lấy chén đũa ra đây, ngồi ăn cùng thầy.
Đào không dám vô lễ, hai ba lần xin phép được ăn sau, nhưng Thầy nhất định bảo Đào ngồi xuống ăn chung. Đào lấy phần cơm ra chén rồi khép nép ngồi xuống bên cạnh, phía sau lưng Thầy. Thầy không bằng lòng, quay lại bảo:
- Con với ta bây giờ là bạn đồng hành, và ta coi con như con cháu. Vậy con phải ngồi đối diện, ăn uống cho tự nhiên ... à, này con, bây giờ ta thấy không thích ăn thịt cá. Con hãy lấy gói mè rang với muối ra đây cho ta.
    Đã hiểu ý Thầy, Đào không dám cải. Ăn uống xong, Đào trải chiếc chiếu nhỏ và mền dày trên thềm, dưới mái hiên, để Thầy nằm nghĩ. Đào ra hiên sau, lấy chiếc chiếu còn lại để vừa nằm lên
vừa đắp. Đi bộ và gần như suốt ngày liền tay chặt các nhánh cây để lấy đường đi, chàng trai trẻ vừa nằm xuống đã thấy buồn ngủ. Bỗng Đảo nghe tiếng Thầy gọi. Đào to tiếng dạ và bước quanh thềm lại gần Thầy. Thầy bảo:
- Này con, ta cám ơn con đã theo chăm sóc ta. Nhưng con nên nhớ là con còn công ơn sinh thành của cha mẹ phải trả. Con còn mẹ già, mỗi đêm trước khi đi ngủ con phải khấn xin Chư Bồ Tát phù hộ cho mẹ con. Con cũng phải cầu nguyện cho thân phụ của con được siêu thăng về cõi Phật. Ta chỉ muốn dặn con có thế. Con đi ngủ đi.
    Trở về chỗ, Đào quỳ xuống khấn nguyện theo lời Thầy dạy. Thầy thong thả bước xuống sân, vừa đi bách bộ vừa loay hoay suy nghĩ đến ý nghĩa của cuộc đời. Thầy tự hỏi:
- Ta sanh ra để làm gì? Con người vật lộn với cuộc sống, đến khi chết nào còn giữ được cái gì, nếu không phải chỉ là ký ức về những điềm hay dỡ ở đời này và hậu quả của những điềm đó? Ta còn phải sanh đi sanh lại mãi cho đến bao giờ?
    Những câu hỏi tương tự quay cuồng trong đầu cho đến khi Thầy nhận thấy sương bắt đầu xuống và khi trời trở lạnh trong rừng khuya. Sực nhớ đến trò, Thầy bước ra hiên sau. Thấy Đào ngủ say, nằm co quắp dưới chiếc chiếu mỏng, Thầy trở lui lấy chiếc mền dày của mình, đem lại nhẹ nhàng đắp thêm cho trò. Thầy mặc thêm chiếc áo lót bông, bước xuống sân, ngồi tựa vào tảng đá lớn, nghĩ đến hoàn cảnh của mình và không khỏi liên tưởng đến sự tích Thái Tử Tất Đạt Đa nửa đêm trốn khỏi hoàn thành cùng người giữ ngựa Xa Nát ... Thầy ngủ thiếp lúc nào không hay.
    Bổng Thầy thấy tảng đá sau lưng sáng ngời, sáng với màu vàng êm dịu. Ngạc nhiên, Thầy quay lại nhìn và thấy chỗ Thầy tựa đầu có hai chữ Vô Sanh được chạm nổi bằng vàng ròng trên đá. Thầy đưa tay sờ hai chữ vàng và bỗng dưng cảm thấy diệu lạc như chưa từng biết ... Trong nỗi hân hoan thanh thoát, Thầy tiếp tục ngủ thiếp cho đến khi có tiếng gà gáy vọng lại. Thầy mở mắt, thấy trời đã mờ sáng, và cảm thấy trong lòng vẫn còn niềm hoan lạc mênh mông do giấc mơ kỳ diệu đêm qua. Nhưng Thầy thắc mắc và không tìm thấy lời giải, vì không hiểu hai chữ “Vô Sanh” có ý nghĩa đặc biệt gì đối với mình.

Tao ngộ
Sau khi dùng chén trà nóng buổi sáng, Thầy cùng trò tìm đường ra
khỏi rừng. Chừng nửa tiếng sau, hai người đến một thôn ấp nho nhỏ, có vẻ nghèo nàn, gồm chừng ba chục nóc gia, nằm hai bên đường mòn. Thầy bảo Đào vào các nhà hỏi xem có nếp và mè thì mua thêm một ít. Thầy lững thững đi tiếp đến cuối làng và ngạc nhiên thấy trên đồi có một ngôi nhà tranh nằm trên nền đất cao, trông có vẻ tiêm tất hơn mọi nhà khác. Bước lên đồi, gần đến gian nhà, Thầy mới nhận ra đó là một ngôi chùa nhỏ, gồm có chánh điện và hậu liêu trong cùng một căn nhà tranh dài. Trên cửa giữa, lấp dưới mái tranh, một tấm bảng gỗ nhỏ ghi tên chùa “Pháp Duyên Tự” viết bằng chữ Nho rất rắn rỏi. 
    Một nhà sư già vui vẻ bước ra cửa chào hỏi và mời Thầy vào chánh điện. Thầy chắp tay đáp lễ, và bước vào trong, xin một nén hương để đảnh lễ trước bàn thờ Phật. Bàn thờ vỏn vẹn chỉ có một pho tượng Phật Thích Ca bằng gỗ, chạm trổ sơ sài nhưng cũng không đến nỗi thiếu thẩm mỹ. Sư cụ mời Thầy dùng trà bên chiếc bàn gỗ kê ở một góc xa trong chánh điện. Nhà sư gợi chuyện:
- Trông ông nho nhã, không phải là người buôn bán. Vậy chớ ông đi vào miệt Trong làm gì?
Thầy cố lấy vẻ ung dung đáp:
- Thưa, sư cụ nói đúng, tôi không phải là thương nhân. Tôi dạy học, nay muốn thăm người bà con, nhân thể xem phong cảnh nước nhà miệt đàng Trong vì tôi đã có dịp đi ra đàng Ngoài rồi. Tôi có đem theo một chú môn sinh tuy đã lớn nhưng chỉ mới nhập môn. Nó ghé tìm mua một hai thứ, chắc cũng sắp đến đây bây giờ.
Sư cụ hỏi thăm tình hình trong Kinh Đô từ khi giặc Pháp đến và Thầy chỉ đối đáp qua loa, vì Thầy sợ tỏ ra biết nhiều tình tiết chính trị thì nhà sư có thể nghi ngờ. Thầy quay qua hỏi sư cụ về giáo lý nhà Phật:
- Bạch sư cụ, tôi được học đòi ba chữ sách Khổng, nhưng về kinh tạng nhà Phật tôi rất tối tăm. Tôi mong sư cụ chỉ giáo và khai thị cho tôi.
Sư cụ từ tốn đáp:
- Tôi xuất gia từ nhỏ. Trước đây nhờ có sư phụ tôi giảng dạy cho ít nhiều nên sơ ngộ được đôi ba chỗ thâm sâu của giáo lý đại thừa. Tôi chỉ có một ít sách vở để học hỏi, và suốt ngày chỉ biết tụng kinh niệm Phật và làm vườn, trồng rau trồng hoa. Ông hỏi điều gì tôi giải thích được, tôi xin cố gắng.
    Thấy Đào lảng vảng ngoài sân, sư cụ vẫy tay bảo ra ngoài hậu liêu ngồi nghỉ. Đào xin phép được thổi cơm chay để sư cụ và Thầy dùng ngọ.

Sanh Lão Bệnh Tử
    Hai người đàm đạo với nhau rất lấy làm tương đắc. Nhận thấy sư cụ ứng đối rất uyển chuyển lưu loát trong các đề tài giáo lý, Thầy cảm thấy thích thú và nảy ý kiến đem hai chữ “Vô Sanh” nằm mơ thấy đêm qua để nhờ sư cụ giải thích. Sau khi nghe Thầy kể lại giấc mơ, sư cụ tỏ vẻ vui mừng nói:
- Ông là đệ tử của cửa Khổng sân Trình mà có giấc mơ như vậy hẳn là có duyên lớn với Phật Pháp nữa đây. Tôi xin chúc mừng ông. Ông cũng hiểu là con người nhập thế ở cõi vô thường này phải chịu sự chi phối của luật Sinh Lão Bệnh Tử. Từ khi sinh ra, lớn lên không tránh được tuổi già và bệnh tật, rồi hết tuổi thọ thì phải chết. Thái Tử Tất Đạt Đa hồi xưa, từ nhỏ đến lớn sống giam hãm trong cung điện vàng ngọc, không hề có ý niệm gì về Sinh Lão Bệnh Tử. Cho đến khi Ngài ngồi xe ngựa đi dạo ra bốn cửa thành trông thấy cảnh tượng người già, người bị bệnh, người chết và người xuất gia, mới nhận thức tánh cách vô thường của đời người. Sanh tử là nguyện đương nhiên ở đời này, cho nên sách Phật thường nói Hữu Sanh Tất Hữu Diệt. Nhưng tại sao tôi dám chúc mừng ông? Ông nằm mơ ngộ được Vô Sanh tức là ông sẽ được giải thoát, không còn bị tiếp tục lôi cuốn trong vòng Sinh Tử Luân Hồi nữa. Vì vậy tôi tin rằng nếu ông xuất gia chắc hẳn ông sẽ đắc chánh quả ...
Nghe đến đây, Thầy sụp xuống lạy sư cụ và nói:
- Bạch sư cụ, lời giảng giải của Minh sư làm tôi tỉnh ngộ. Bao nhiêu năm nay tôi thắc mắc và do dự. Nay nghe Sư cụ giảng dạy, bỗng nhiên tôi thấy chân trời mở rộng và tôi không còn nghi ngờ gì nữa. Sư cụ là bậc tu hành mà từ sáng đến giờ cứ giấu giếm. Sư cụ, thật quả đáng xấu hổ. Tôi làm quan trong Triều, giữ chức Thị Lang Bộ Học, vì chán thế cuộc nên từ quan ra đi để tìm chân lý cho cuộc sống. Tôi sợ quân đô hộ Pháp nghi ngờ và để ý theo dõi nên tôi phải giấu giếm tông tích. Với Sư cụ, tôi không dám giấu giếm. Có duyên gặp nhau ở đây, tôi xin Minh sư nhận cho tôi làm đệ tử  ...
Sư cụ sững sờ một lúc, rồi vội đứng dậy, đỡ Thầy lên ngồi ghế, sư cụ quỳ xuống, chắp tay trước ngực, hối hả xin lỗi:
- Thưa Thượng quan, tôi không biết nên từ sáng đến giờ thất lễ với Ngài. Xin Ngài tha lỗi cho tôi và thật tình không thể nào tôi dám nhận Thượng quan làm đệ tử.
Đến lượt Thầy phải nâng sư cụ đứng dậy. Thầy đáp:
- Sư cụ là bậc tu hành, đừng làm thế tôi mang tội. Vả lại bây giờ tôi chỉ là thứ dân và rất mong Minh sư nhận tôi làm đệ tử để cho tôi được khai thị trên đường tu tập.
Sư cụ trầm ngâm nói:
- Thật là đại hạnh cho tôi có đại duyên được gặp Thượng quan trên đường tầm đạo. Nhưng tôi biết trí năng thô thiển, chỉ học được hai câu kinh ba câu kệ, đâu phải là Minh sư mà dám nhận Ngài. Có lẽ Ngài ham đọc sách thánh hiền nên không mấy quan tâm đến kinh sách nhà Phật, chứ trí tuệ của Ngài tất thông hiểu giáo lý thâm sâu của nhà Phật dễ dàng hơn chúng tôi. Nay tôi có mấy bộ kinh sưu chép ở chùa đây, Ngài có thể lấy xem qua, rồi sau này đi tìm Minh sư mà thụ giới. Thật tình tôi không đủ sức hiểu biết để dìu dắt Ngài  ...
Ngưng một giây, sư cụ nói tiếp:
- Vả lại, trong hoàn cảnh của Thượng quan, tôi nghĩ nơi đây còn gần kinh thành, tôi sợ Ngài không thể tá túc và tu hành ở đây được.
Thầy đắn đo một lúc rồi đáp:
- Chỉ mới nghe qua hoàn cảnh của tôi mà Sư cụ xét đoán thật là phân minh. Lý do cuối cùng mà Sư cụ vừa nói làm tôi suy nghĩ. Tôi mong tầm đạo nên quên mọi chuyện khác. Sư cụ nói đúng, nếu tôi đừng chân ở đây, không những quân Pháp mà gia đình tôi sẽ tìm thấy và buộc tôi trở về thụ chức. Nếu Sư cụ không ngại điều gì, tôi xin Sư cụ cho phép tôi tá túc ở đây đôi ba ngày để đọc sách và lãnh giáo với Sư cụ, xong tôi lại tiếp tục lên đường. Sau khi tôi ra khỏi nơi đây, xin Sư cụ đừng thuật lại ai nghe là tôi có ghé qua nơi đây.
Sư cụ chắp tay nói:
- Mô Phật, tôi sẽ không tự ý thuật cho ai nghe. Tuy vậy Ngài cũng hiểu cho tôi là người tu hành, nếu có ai hỏi tất tôi không thể nói dối. Nhưng tôi xin mời Ngài cứ ở lại xem mấy cuốn kinh sách mà chùa nghèo nàn này có được. Ngài muốn lưu lại bao nhiêu ngày xin tùy tiện, miễn là chí hướng của Ngài không bị cản trở.

Qua bến Giác
    Từ lúc bịn rịn chia tay cùng sư cụ chùa Pháp Duyên, Thầy và Trò ngày đi đêm nghĩ, không vội vàng mà cũng không chần chừ. Đường sá chỉ là đường mòn lởm chởm gai góc, lúc băng qua núi, lúc dọc ven biển. Lương thực quày trên vai chỉ có hạn, cho nên gặp những đoạn đường đi bộ nhiều ngày trong rừng, không còn thức ăn và không gặp hàng quán, nhiều lúc thầy trò phải tìm những cây trái không độc để ăn qua bữa. Nhưng hễ gặp một cảnh chùa, bất luận lớn nhỏ, Thầy bảo trò dừng chân để viếng và chiêm ngưỡng. Mỗi lúc dừng chân và nghỉ ngơi, dưới bóng cây hay dưới mái chùa, Thầy không quên dạy Trò học thêm dăm ba chữ mới, và giảng dạy ý nghĩa thâm sâu của các từ ngữ liên hệ. Đào là người học trò thông minh, hiểu nhanh chóng và ghi nhớ dễ dàng. Thấy rất hài lòng vì trên đường lữ thứ còn làm được việc hữu ích.
    Một tháng sau, qua một đoạn đường gian nan dài trên một trăm cây số, hai thầy trò đến bên bờ sông Hàn. Thầy quyết định dừng chân ở đây, đến viếng cảnh động Thanh Tuyền, rồi đến chùa Non Nước xin thụ giới ở đó.
    Thầy ngồi nghĩ chân trên mô đất. Nhìn dòng sông Hàn chảy cuồn cuộn, Thầy suy nghĩ rất lâu rồi quay lại chậm rãi nói với Trò:
- Này Đào, đến đây con nên trở về nhà. Ta đi thuyền qua sông Hàn, ý nghĩa cũng giống như câu “Đào Bì Ngạn” tức là “qua bờ bên kia”. “Đào Bì Ngạn” là tên dịch nghĩa, và “Ba La Mật” là tên dịch âm, của một danh từ tiếng Phạn, như con đã nghe sư cụ Pháp duyên giảng dạy cách đây mấy tuần. Đối với ta hiện nay, vượt qua bên kia bờ sông Hàn chưa phải là giác ngộ, nhưng có nghĩa là ta dứt khoát xuất gia thoát tục. Dầu ta đau lòng nhưng đây là lúc con và ta phải chia tay. Người xuất gia phải tự tay làm lấy mọi việc. Ta cám ơn con đã theo ta, lo phục dịch chu đáo cho ta trên quan lộ mấy năm qua và trên đường lữ hành cả tháng trời nay. Nếu ta tạo được chút công đức gì trong khi tu hành, một phần công đức đó là của con. Con trở về làm ăn  và chăm sóc cho mẹ già và em gái của con. Tiền bạc ta giao con giữ để chi phí dọc đường, còn ít nhiều con hãy giữ lấy đem về làm ăn và phụng dưỡng mẹ già. Ta sắp xuất gia, không cần giữ tiền làm gì.
Quyết định và lời lẽ của Thầy quá đột ngột làm Trò sửng sốt. Đào phủ phục dưới chân Thầy, tuy không khóc thành tiếng nhưng nước mắt ràn rụa ướt cả chân Thầy. Trò than vãn:
-  Con không làm điều gì lầm lỗi, sao Thầy nỡ đuổi con đi. Rồi đây, ai sẽ lo cơm nước cho Thầy. Xưa nay, Thầy quyền cao chức trọng, chân yếu tay mềm không quen làm các việc tạp nhạp, ai là người chăm lo mọi việc hàng ngày cho Thầy. Thưa Thầy, Thầy cho con theo, bất cứ Thầy đến đâu, con nguyện theo Thầy mãi, và không làm trở ngại công phu tu hành của Thầy.
Thầy cũng rơm rớm nước mắt, nhưng cố lấy giọng cương quyết bảo Trò:
- Khi xuất gia, ta sẽ tu hành như mọi người. Ta sẽ không thể giữ con bên cạnh được. Hơn nữa, con còn phải lo mẹ già và em nhỏ của con; ta cứ giữ con ở lại thì chẳng hóa ra ta ích kỷ ư. Chữ hiếu là nặng. Con có nhớ không? Đến như Thái Tử Tất Đạt Đa xuất gia đã thành Phật, mà khi biết phụ vương đau, Ngài cũng vội vã trở về kinh thành viếng thăm cha như mọi người con hiếu đễ trên đời.
Trò không nản lòng, vẫn cố năn nỉ:
- Thưa Thầy, con không phải là bất hiếu. Nhưng con biết mẹ con tuy già nhưng vẫn khỏe mạnh, và em con chăm sóc cho người được. Mẹ con và em con vui lòng biết con được theo Thầy, và nếu Thầy cho phép, con xin cạo đầu xuất gia luôn để theo hầu Thầy và được hưởng ân đức của Thầy. Như thế mẹ con lại còn vui lòng hơn nữa.
Thầy nghiêm giọng nói:
- Này Đào, khi ta sang bên kia bờ sông là ta đã dứt với đoạn đời đã qua. Ta phải bắt đầu tập thương mọi người và chúng sinh như thể ta thương con và gia đình ta. Con phải về với mẹ già cho tròn chữ hiếu. Ta và con vẫn có ngày gặp nhau.
Trò vẫn quỳ, khóc lóc:
- Thầy, Thầy  ... Thầy đã cho con theo đến đây, xin Thầy ít nhất cho con cùng Thầy sang bờ bên kia, để được trông thấy nơi ăn chốn ở của Thầy ra thế nào lúc ấy con mới an tâm trở về được.
Suy nghĩ một lúc, Thầy dịu dàng xoa tóc Đào và nói:
- Tội nghiệp cho con. Thôi được, con gọi thuyền để chúng ta cùng qua bờ bên kia. Con phải hứa với ta là lúc về con sẽ đi thẳng về nhà con, không được báo cho gia đình ta hoặc bất cứ ai biết là ta đang ở đâu.
Trò cam kết:
- Xin Thầy an lòng. Con đã hiểu tâm nguyện tu hành của Thầy và con không dám cản trở vì con sợ mang nghiệp tội. Thầy đã dặn như vậy thì Đào này dù thịt nát xương tan cũng không bao giờ hé môi.

Dấu chân ẩn sĩ
    Tin một vị thượng quan trong triều treo ấn từ quan lan truyền nhanh chóng ở Kinh thành ... Vài ba ngày một lần, lúc sáng sớm, tại tư thất của cụ Thị Lang tại ấp Tây Thượng, phu nhân và những người con lúc ấy đang có mặt ở kinh thành họp nhau trước một khay trà nóng. Phu nhân nghe các con tường trình về kết quả tìm kiếm Cụ bà lấy làm buồn phiền lo lắng vì đã gần ba tháng qua mà không có tin tức gì xác thực. Hôm nay đặc biệt có người con cả về hầu thăm mẹ. Phu nhân ngồi ở ghế bành giữa phòng khách thảo luận cùng mấy người con ngồi ở hai tràng kỷ hai bên. Cụ có đến tám người con trai và một người con gái. Các người con trai lớn đã đỗ đạt trong các kỳ thi hương. Có ba người con lớn được bổ nhiệm làm quan tại Triều, trong đó có hai người về sau làm đến chức Thượng Thư (thời này gọi là Tổng Trưởng).  
    Phu nhân và các người con hiện diện phân vân, vì cho đến ngày hôm nay vẫn không biết Cụ đi về đâu. Lá thư hoa tiên Cụ để lại chỉ nói là Cụ đi ngao du sơn thủy và không định ngày về. Phu nhân nói:
- Các con còn nhớ, trước đây Cụ đòi từ quan, nhưng các con cũng như các quan đồng liêu trong Triều khuyên can mãi. Cụ lại có ý định lập một cảnh chùa nhưng mọi người đều khuyên can vì chưa phải lúc. Cụ không quen sương gió, một thân một mình đi ở chốn xa lạ trong lúc nhiễu nhương này, thật là một chuyện không nên. Các con phải tìm biết xem Cụ ở đâu, để đón Cụ về. Bây giờ, đã biết Cụ nhất quyết như vậy, mẹ và các con phải lo lập chùa để rước Cụ về.
Người con cả, đang làm Tri Huyện, hôm ấy về họp mặt, trình với phu nhân:
- Thưa mẹ, con có cho người xuống tận nhà chú Đào để xem chú ấy có hay biết gì không. Chú ấy nói là có theo hầu Cụ đến một nơi nào đó rồi Cụ cho về.
Một người con thứ, có tiếng là nóng nảy, bực tức nói ngay:
- Nơi nào là nơi nào, phải hỏi cho ra chứ. Nó theo hầu Cụ bao nhiêu năm nay, sao bây giờ nó dám giấu giếm nhà ta ...
Ông Huyện vẫy tay nói:
- Cả gia đình mình, ai cũng nôn nóng như em. Có điều em nên biết là lúc cho tên Đào trở về, chắc Cụ đã bảo nó hứa là không tiết lộ cho ai biết Cụ đã đến đâu. Bây giờ nó nhất quyết giữ lời hứa với Cụ.
Người em vẫn còn hậm hực:
- Ta cứ đem nó ra cật vấn. Nếu nó không chịu khai, ta cho tra tấn xem nó cứng đầu đến đâu.
Nãy giờ ngồi yên, đến đây phu nhân khoan thai nói:
- Con nói thế không nghe được. Tên Đào là lính hầu cận của Cụ. Nó đã hứa với Cụ thì ta không có cách gì khác là phải trọng chữ Tín của nó đối với Cụ. Cật vấn hay tra tấn trong hoàn cảnh của nó là một chuyện thất đức. Mẹ cấm các con không được làm vậy. Dầu ưu tư và nôn nóng đến đâu, chúng ta phải để nó yên và dùng đường lối khác để tìm kiếm Cụ. Mẹ nghĩ bây giờ các con nên phái người đi hỏi thăm kỹ càng tại các làng mạc về hướng Bắc cũng như hướng Nam xem cách đây ba tháng dân chúng có thấy Cụ và và người lính hầu cận đi ngang không?
    Theo lời phu nhân dặn, các người con phái thuộc hạ đi hỏi dò từng thôn ấp, lần ra phía Quảng Trị và vào phía Quảng Nam. Chỉ năm ngày sau có tin về là sư cụ chùa Pháp Duyên, cách kinh thành một ngày đường về phía Nam, đã miễn cưỡng trả lời là cụ Thị Lang có ghé ở chùa bốn ngày trước khi tiếp tục lên đường. Tin này làm cho cả nhà phấn khởi. Căn cứ vào đó, ông cả Huyện và mấy người em có chức tước trong Triều liền viết thư gởi đến quan lại địa phương ở các tỉnh đàng Trong, bắt đầu từ tỉnh Quảng Nam và Quảng Ngãi, để nhờ tìm kiếm xem hiện cụ Thị Lang đang ở nơi nào.
    Vài tuần sau, một quan Tri Phủ trong tỉnh Quảng Nam cho lính hỏa tốc cầm thư về Huế thông báo là đã tìm được cụ Thị Lang đang trú ngụ tại chùa Non Nước, dưới chân Ngũ Hành Sơn ...

Hoàn hương
    Hai người con thứ ba và thứ tư của cụ Thị Lang, được Vua cho miễn công vụ trong một tháng để về Quảng Nam đón Cụ về. Người con thứ ba, ông Nguyễn Khoa Đạm, biệt hiệu Ngũ Phong, lúc đó giữ chức Tư Nghiệp (cũng giống như Viện Trưởng) trường Quốc Tử Giám, nơi dạy dỗ hoàng thân quốc thích và con của các vị đại thần. Người em là ông Nguyễn Khoa Tân, biệt hiệu Bình Nam, Tham Chi Bộ Hộ (về sau thăng chức Thượng Thơ Bộ Hộ, được vua ban chiếu phong tước Đông Các Đại Học Sĩ). Vì thời gian được nghĩ có giới hạn, hai anh em phải cỡi ngựa ngày đi đêm nghĩ, mong trở về cho kịp ngày ...
    Sau khi đến cảm tạ quan Tri Phủ địa hạt trong tỉnh Quảng Nam đã sốt sắng cho người dò la tìm kiếm  cụ Thị Lang, hai anh em liền rong ruổi đến chùa Non Nước, mặc dầu viên Tri Phủ hết lòng mời ở lại tĩnh dưỡng một hai ngày trước khi tiếp tục lên đường đi vào núi Ngũ Hành  ...
    Hai người không khỏi động lòng rơi nước mắt khi gặp thân phụ, vì đến nơi thì trông thấy Cụ ăn mặc áo quần vải thô rách vai, đang cầm cây mác lớn để chặt cây khô làm củi nấu ăn. Ngược lại, khi nhìn thấy hai người con, Cụ ngạc nhiên nhưng không mảy may xúc động. Vẫn tiếp tục làm lụng, Cụ bình thản hỏi hai con đi đường có bình an không, và hỏi thăm sức khỏe mọi người trong nhà. Tuyệt nhiên Cụ không đá động đến việc triều chính.
    Hai người con mời Cụ vào hậu liêu trong chùa, tự tay đi nấu nước pha trà Ngự Thiện do vua ban, và dâng lên Cụ dùng. Cả hai phủ phục trước bàn Cụ đang ngồi. Người con lớn nói:
- Thưa cha, từ ngày cha rời bỏ kinh thành ra đi, mẹ và chúng con rất lo lắng. May mắn làm sao, chúng con tìm biết được cha tá túc ở ngôi chùa này. Cha đã lớn tuổi, sống xa nhà trong lúc này rất là bất tiện. Chúng con xin cha xét nỗi lo lắng buồn phiền của cả gia đình, mà trở về với chúng con. Triều đình chỉ cho nghĩ công vụ một tháng, nhưng chúng con sẽ chỉ rời nơi này khi nào cha bằng lòng trở về.
Cụ nâng cao chén trà thơm, hướng về phía Bắc như là để bái vọng cảm tạ lộc Vua ban, rồi quay lại chậm rãi nói với hai con:     
- Các con khó nhọc vì tâm nguyện tu hành của ta. Thật ra các con khó nhọc không hẳn vì bản thân ta đâu. Mọi khó nhọc hay hy sinh của các con cho hạnh nghiệp tu hành bất cứ một ai đều là công đức của chính các con. Phần ta, khi ta băng ngang sông Hàn, ta đã nguyện xuất gia, đến nương nhờ cửa Phật, ta không thể trở về được.
Đến lượt người em nói:
- Thưa cha, chúng con đã hiểu chí tâm của cha. Khi đã hiểu rồi, chúng con không bao giờ dám làm trái ý. Mẹ có bảo chúng con là lúc cha trở về, chúng con phải lo lập ngay cảnh chùa để cha có chốn tu hành theo ý muốn. Chúng con xin hứa sẽ cùng nhau sớm khởi công xây cất một ngôi chùa ở khu đất trống bên cạnh Từ Đường của tộc Nguyễn Khoa chúng ta. Như vậy chúng con được dễ dàng lui tới viếng thăm hầu hạ cha trong tuổi già. Nếu cha tu hành ở chốn xa xăm như thế này, trong lúc nước nhà hoạn nạn và loạn lạc, mẹ và chúng con làm sao ngày ngày an tâm được.
Cụ rót thêm trà ra hai chén, bảo hai con:
- Các con ngồi lên đây, ta nói tiếp ... Ta không muốn các con lo lắng vì bổn thân ta. Ta bằng lòng trở về với các con, nếu thật tình các con dự tính xây cất chùa bên cạnh Từ Đường của gia tộc. Ta muốn các con lập chùa, không phải vì muốn có nơi tu hành gần các con để các con khỏi lo lắng cho ta mà thôi. Trước hết là ta muốn các con tạo công đức to lớn riêng của các con đối với Phật Pháp khi xây dựng được một cảnh chùa ... Bây giờ, hai con đã cất công vào đến đây, còn ít nhiều thì giờ, ở chơi đôi ba ngày, nghe hòa thượng giảng dạy kinh kệ và đi xem núi non hùng vĩ của quê hương ở vùng này. Sau đó, chúng ta sẽ lên đường trở về  ...

Đạo hạnh
    Trong kinh sách, danh từ tiếng Phạn Paramitra được dịch âm là Ba La Mật Đa và dịch nghĩa là “Đáo Bỉ Ngạn” tức là qua bờ bên kia. Để kỷ niệm ý định xuất gia khi vượt qua bờ bên kia sông Hàn, cụ Thị Lang đặt tên ngôi chùa mà các con Cụ vừa xây cất xong ở ấp Tây Thượng là chùa Ba La Mật. Từ đó, người ta thường gọi cụ Thị Lang Nguyễn Khoa Luận, biệt hiệu Văn Từ, là cụ Ba La. Các hàng đệ tử đời sau của Cụ, cũng như những người muốn tỏ lòng tôn kính đối với một vị thượng quan mà lại xuất gia tu hành khắc khổ và chân chính, gọi Cụ là ngài Ba La. Lúc Cụ qui y tam bảo, Cụ có pháp danh là Viên Giác. Đạo hiệu chính thức là Thanh Chơn Viên Giác Đại Sư.
    Viên Giác Đại Sư thường hay suy ngẫm ý nghĩa thâm sâu của Kinh Bát Nhã Ba La Mật và rất tin ở sự nhiệm mầu của câu chú Đa La Ni trong kinh đó. Một hôm, có đứa bé chăn trâu bị trâu dữ húc đến lòi ruột. Gặp lúc vị lang y độc nhất trong vùng đi chữa bệnh xa chưa về, Cụ bảo khiên nó để lên giường rồi tự mình chữa cho nó. Liên tục tụng câu Thần Chú Bát Nhã Ba La Mật:
“Yết đế, yết đế, ma ha yết đế, ma ha tăng yết đế, bồ đề tát bà ha.”
    Cụ cầm bó hương trong tay phải, khoa trên bụng đứa bé, và dùng tay trái nhét ruột trở vào, xong lau sạch máu và lấy vải bó chặt bụng nó lại. Xóm làng rất ngạc nhiên, vì ngày hôm sau lang y mở băng bụng đứa bé để chữa thì thấy vết thương đã bắt đầu khô và không bị nhiễm độc. Tuy tu hành ở chùa cạnh nhà, Cụ tự coi là người xuất gia, theo đúng nghĩa của danh từ này, và hầu như không bao giờ bước chân về nhà. Tâm cụ đã thoát tục đến nỗi khi Cụ bà cho lính lệ đến trình báo là hai người con trai sau cùng vừa thi đổ, Cụ không nói gì và vẫn đứng bẻ các cành tre khô sau vườn dùng để nhúm lửa, sắc mặt không chút thay đổi. Vài năm sau đó, tin hai người con lớn được thăng chức gần tột đỉnh trong Triều cũng không làm Cụ xúc động. Có lẽ Cụ đã coi  đó là thế tục vô thường.
    Mặc dù không quen sống vất vả, Cụ chấp nhận lối tu khổ hạnh như mọi người nhập cửa Thiền. Có hôm trong chùa không còn gì để ăn, Cụ đào củ rái ở ven hồ sau chùa lên để nấu canh. Cây rái có lá và củ giống hệt như cây khoai môn, nhưng có đặc tánh là gây ngứa ngáy khó chịu khi đụng vào da thịt. Tối hôm đó, ăn cơm xong, chú tiểu nằm vật vã sau bếp, than khóc vì ngứa xót trong cổ. Mặc dù Cụ cũng dùng canh củ rái như chú tiểu, Cụ điềm nhiên thắp đèn dầu ngồi đọc sách. Cuối cùng, chú tiểu không chịu được lên năn nỉ Cụ. Cụ từ tốn bảo:
- Có thuốc gì đâu con! Ngứa hay không là do nơi con chứ không phải do nơi củ rái. Nếu tâm con tin là không ngứa thì thân con sẽ không thấy ngứa ...
    Lúc Cụ xuất gia, các người con đã làm quan trong Triều hoặc dạy học. Nhưng tất cả đều liêm khiết, noi gương Cụ sống trong cảnh thanh bạch. Vì trong nhà không được dư dả như hồi Cụ còn làm quan và có thọ lãnh bổng lộc của triều đình, Cụ bà phải ra tay buôn bán tần tảo để nuôi những người con còn nhỏ tuổi tiếp tục ăn học.
    Trong ấp Tây Thượng, cũng như cả làng Nam Phổ, vườn nhà nào cũng trồng nhiều cau. Ở Huế, có câu ca dao diễn tả làng Nam Phổ trồng nhiều cau đến nỗi con gái còn bé chưa biết mặc quần đã biết trèo cây cau:
Con gái Nam phổ ở lỗ trèo cau.
    Bởi vậy, ở Tây Thượng, để kiếm thêm lợi tức, ngoài việc buôn bán tơ lụa, Cụ bà ngày ngày bổ cau và phơi khô để gởi bán ở chợ. Nhưng Cụ bà, cành vàng lá ngọc ở Hoàng Tộc, làm lụng vất vả không phải chỉ nuôi con ăn học mà thôi: thỉnh thoảng các chị hàng cá đến kêu réo ở cổng, đòi Cụ bà trả tiền cá.
    Vì là người tu hành, cụ Ba La không hề giữ tiền của trong người. Mỗi lần phải dùng thuyền qua sông Hương, Cụ không có gì để trả tiền đò ngang. Các người lái đò đã biết Cụ, tranh nhau mời Cụ “quá giang” mà không lấy tiền, gọi là để lấy chút phúc đức. Nhưng trong khi qua sông, thấy cá còn tươi đang dãy trong rổ của các người gánh cá đi bán ở chợ, Cụ động lòng từ bi, lấy từng rổ cá đổ xuống sông. Các người bán cá túm áo Cụ để đòi tiền. Người chèo thuyền biết chuyện bảo họ không được vô lễ, phải đến nhà xin Cụ bà cho lại tiền cá. Ở Huế, người ta thường nói đùa đanh đá nhất có đàn bà con gái làng Chuồn, và phần lớn dân làng này sống về ngư nghiệp. Dầu có thật như vậy đi nữa, trước sắc thái từ tốn và hiền hòa của Cụ, các bạn hàng cá qua sông sẵn sàng nghe lời người lái đò và lên bờ tìm đến tư thất của Cụ bà mà lấy tiền. Về sau, gần như là thói quen, mỗi khi gặp cụ Ba La bước lên thuyền, các chị hàng cá tự động đổ cá xuống sông rồi quầy gánh trở lên bờ, đi đến tư thất Cụ bà để lấy tiền, khỏi phải mất công ra chợ bán.
    Cũng may là cảnh phóng sinh này không xảy ra thường xuyên vì ít khi cụ Ba La ra khỏi chùa. Hàng ngày, từ sáng tinh sương, Cụ đã dậy niệm Phật tụng kinh, ngồi thiền, nghiên cứu kinh sách, làm vườn, trồng cây cảnh ... Nhưng mỗi tháng một lần, đúng ngày rằm, Cụ vác chổi lên vai và đi bộ từ chùa Ba La lên đến chùa Linh Mụ, cách xa cả hai mươi cây số ngàn. Gọi là để làm công quả, Cụ ra tay quét sạch bảy tầng tháp, từ trên lầu thượng xuống đến sân. Quét xong, Cụ nghĩ mệt một lúc, rồi lại vác chổi đi trở về. Trẻ con trong vùng trông thấy Cụ, cứ gọi là “ông già điên” và lấy đá gạch ném vào người Cụ, nhưng Cụ không hề la mắng và nói gì, cho đến khi cha mẹ chúng trông thấy và đánh đòn răng dạy chúng, vì họ biết Cụ là ai.
    Mặc dầu Cụ đã hoàn toàn thoát tục, không màng việc đời, như dường như Cụ vẫn không chịu được hình ảnh của nền đô hộ Pháp. Con đường từ chùa Ba La lên chùa Linh Mụ phải đi ngang trước mặt tòa Khâm Sứ Pháp (ở đầu cầu Tràng Tiền ngày nay). Trên đường đi lên chùa Linh Mụ, khi còn cách tòa nhà này cả dặm đường, Cụ đã bước xuống đường ruộng để tránh xa, mặc dầu đi vòng quanh như vậy là Cụ phải đi bộ xa thêm cả sáu cây số.

Thầy Trò muôn đời
    Cụ Ba la sống cuộc đời tu hành khổ hạnh như vậy trong gần hai mươi năm trường. Cụ viên tịch năm 1900, hưởng thọ 66 tuổi. Bao nhiêu biến chuyển thăng trầm xảy ra cho nước nhà và riêng xứ Huế qua một thế kỷ rưởi, nhưng chùa Ba La của Viên Giác Đại Sư vẫn thi gan cùng tuế nguyệt như là di tích phô bày cuộc đời tu hành chân chính và khắc khổ của một vị thượng quan trong Triều đình Huế, đồng thời biểu chứng sự đóng góp và hy sinh của vợ con vào hạnh nguyện tu hành của Ngài.
    Mặc dù lúc sinh thời Cụ hết sức bình dị trên mọi mặt, đám tang Cụ lại rất linh đình, có đủ mặt các vị cao tăng xứ Thuận Hóa, quan chức lớn trong triều, đệ tử lớn nhỏ, con cháu thành đạt và đông đủ ... Trong đám người chen chúc đến phúng điếu và tiễn đưa linh cữu, trong cảnh ngựa xe như nước áo quần như nêm, trong tiếng chuông Đại Hồng và trống Bát Nhã vang rền, không ai để ý đến một người đàn ông trung niên mặc tang phục, sụt sùi, bế con đứng khép nép sau cột nhà. Đó là Đào, người lính hầu cận trước đây của cụ Thị Lang, đã bế con trai đầu lòng từ làng lên kinh thành để được trông thất dung nhan Thầy lần cuối và năn nỉ Cụ bà xin được phép thọ tang.