Bài Viết
Nguyễn Khoa Nam
Chủ Trương: Nguyễn Mạnh Trí
Kỹ Thuật: Nguyễn Khoa Danh
Viết Về Ông Thầy
Trần Xuân Lớn


Tôi bắt đầu làm việc với ông trước năm 60 lúc đó ông là quan hai, Đại Đội Trưởng Đại Đội Kỹ Thuật. Tôi được ông cấp cho một căn nhà ở, tuy tôi không thuộc quân số của ông, nhưng ông rất thương gia đình tôi. Qua năm 63 tôi đổi về Tiểu Đoàn 6 Nhảy Dù ở Vũng Tàu đem vợ con về Vũng Tàu.
    Đến năm 66, ông lên quan tư rồi quan năm về coi Tiểu Đoàn 5 Nhảy Dù rồi Chiến Đoàn 3 Nhảy Dù và ông lấy tôi về làm đệ tử theo gót chân thầy gần 4 năm (Lên non tôi cũng lên theo-Xuống thuyền tôi cũng ngồi leo mạn thuyền). Nói về ông, là một con người có chí lớn, làm việc chí công, vô tư, không tham lam, rất thương cấp dưới, nhất là gia đình quả phụ, cô nhi. Quan niệm làm việc của ông là “làm hết việc chứ không làm hết giờ”. Ông sống một cuộc sống độc thân cô đơn, xa lánh sự tiếp xúc phái nữ, kể cả chị em bà con trong gia đình. Có một lần tại văn phòng làm việc, điện thoại để trên bàn của ông reo, ông không nghe, ông bảo tôi nghe. Một giọng nữ từ bên kia gọi lại bảo là: “Cô Nguyễn Khoa Diệu Yến từ Nha Trang vào muốn gặp anh Nam.” Nhưng ông không tiếp người em bà con của mình, bảo tôi trả lời với cô là ông đi vắng! Tôi cũng cảm thấy hành động ông hơi khó hiểu.
    Cuộc sống đơn độc quanh năm, ăn cơm hàng cháo chợ, đệ tử xách ga men đi mua cơm rất tội nghiệp. Biết ý của “thầy” nên tôi nói vợ tôi mua cá ngừ về kho nhiều nước, mua bún Huế to sợi về cho ông ăn, ông khen ngon, ông hỏi mua ở đâu? Tôi bảo vợ tôi nấu, nên nhiều lần công tác xa về là ông nói về bảo bà xã tôi làm món ăn cho ông. Tên tài xế và tôi chạy khắp Sài Gòn tìm có quán, tiệm nào bán “bún bò giò heo Huế” là mua.
    Đi theo gót chân ông thầy trên khắp nẻo đường bốn vùng chiến thuật, thật gian lao, vất vả, nhất là vùng Đắc Tô, Đắc Sút, vùng Cao Nguyên, đèo Bạch Mã-Thừa Thiên, A Sao, A Lưới. Khi lên đỉnh núi cao ngồi nghĩ nhìn lại thấy ông thầy mồ hôi mồ kê ẵm ướt đầm dề tội nghiệp, mình lấy khăn thấm nước đưa cho ông thầy lau. Tôi cảm thấy thương mến và kính phục ông hơn vì thấy ông làm sếp mà cũng chịu gian khổ, còn bọn đàn em lính chiến như tôi, dù gì, cũng đã quen với gian khổ lắm rồi nên dù có mệt nhọc cũng là sự thường. Ông thích hút thuốc salem hay xì gà của Mỹ. Ông vẫn giữ trong người cái hộp quẹt bằng đồng cổ lỗ xỉ lắm rồi, hình như do cô nữ trợ tá người Pháp tặng cho ông lúc còn là quan một. Đó là vật kỷ niệm khó quên, hư hoài mà ông bảo sửa chữa cho ông xài trong khi đó có 3, 4 cái hộp quẹt Zippo của những người bạn Mỹ tặng mà ông không hề đụng đến.
    Ông luôn luôn muốn tôi phải có mặt bên ông, nhưng tôi sợ nhất là những khi rảnh rỗi, phải ngồi nhổ tóc bạc cho ông đến cả giờ đồng hồ trong khi ông nằm trên võng ngủ lúc nào không hay. Vì hiểu hoàn cảnh gia đình tôi nên lúc ông lên cấp tướng đổi về Quân Đoàn IV ở Cần Thơ, ông cho ở lại Sài Gòn mà một mình về Bộ Tư Lệnh Quân Đoàn IV.
    Cuộc đời ông, những vui buồn cùng với ông thầy của tôi kể sao cho xiết! Tóm lại cuộc đời riêng tư của ông cũng giống như ông Ngô Đình Diệm: quên mình, một lòng vì đất nước và quân đội. Sau bao năm chiến tranh tương tàn, ngày 30 tháng 4 năm 1975, nước mất nhà tan, gia đình ly tán. Cuộc biển dâu đổi đời, thầy trò mỗi ngã, kẻ mất người còn, nghĩ lại thật quá đau lòng!

Ông  nguyên là Trung Sĩ cận vệ của Tướng Nam  lúc ông còn ở Tiểu Đoàn 5 và Chiến Đoàn 3 Nhảy Dù.