Bài Viết
Nguyễn Khoa Nam
Chủ Trương: Nguyễn Mạnh Trí
Kỹ Thuật: Nguyễn Khoa Danh
Vụ Đảo Chánh Ngày 11-11-1960
Đỗ Đình Lũy

Được hơn 2 năm thì một lần nữa Nam và tôi lại cùng được chỉ định đi học lớp Tham Mưu tại Trường Đại Học Quân Sự. Sau khóa học, tôi được thuyên chuyển về phòng 3 Lữ Đoàn Nhảy Dù, còn Nam thì về lại Đại Đội Kỹ Thuật nhưng tôi và Nam vẫn còn đi chung với nhau như trước. Chiều nào cũng đi ăn cơm ở câu lạc bộ Sĩ Quan An Đông, thứ bảy nào cũng đi ăn cơm ở ngoài (bữa thì ăn thịt bò bảy món Ánh Hồng, bữa thì xuống Bình Điền, bữa thì đi ăn thịt rừng Bảy Hổ hay Tám Lọ).
    Lúc này, chúng tôi có thêm một anh bạn nữa là anh Cao Triều Phát cùng đi chung, anh Phát người miền Nam, tính tình cởi mở, vui vẻ, rất dễ mến. Anh Phát mới tốt nghiệp khóa sĩ quan Saint Cyr ở bên Pháp về, anh vốn là dân Tây, nhưng khi đang học trong trường thì nghe tin nước nhà đã độc lập, nền Đệ Nhất Cọng Hòa được thành lập, thế là anh lên bộ chỉ huy nhà trường nạp đơn xin từ bỏ dân Tây. Theo như anh kể lại thì bộ chỉ huy nhà trường lúc đó hết sức can gián anh là không nên làm như vậy, làm như vậy là mất mặt nước Pháp, là làm sứt mẻ tình giao hảo giữa hai nước, anh có thể chờ đến khi mãn khóa sẽ bỏ dân Tây v.v... Nhưng anh Phát nằng nặc không chịu, anh nói rằng bây giờ anh đã có một tổ quốc để tôn thờ, một quân đội để phụng sự, thì anh không còn lý do gì để mang dân Tây nữa, cuối cùng thì người Pháp đành phải nhượng bộ và sau khi mãn khóa anh về nước ngay lập tức và tình nguyện vào binh chủng Nhảy Dù.
    Lúc đó chúng tôi 3 thằng vui lắm, trước khi rủ nhau đi ăn bao giờ Nam cũng hỏi: “Ê, hôm nay đi ăn nước nào đây quý vị?” Nam thường gọi tôi là Bắc Kỳ di cư, gọi Phát là Nam Kỳ tự trị còn Nam tự xưng mình là Ca rô, tôi cũng chẳng hiểu điển tích này ra làm sao nhưng thấy Nam tự xưng như vậy thì Phát và tôi cũng gọi như vậy. Nếu nghe Nam hỏi vậy mà chúng tôi đồng thanh nói: “Hôm nay đi ăn món quý quốc đi.” Như vậy là Nam phải đưa sang Tân Định ăn món Huế, bánh lá chạo tôm hay là bún bò Huế ... Nếu mọi người đều nói: “Hôm nay đi ăn Nam Kỳ tự trị” là Phát phải đưa đi Bình Điền ăn món miền Nam, còn tôi thì chịu trách nhiệm mời món ăn Bắc Kỳ.
    Chúng tôi đang sống vui vẻ như vậy, tuyệt đối không có dính dáng gì về vấn đề chính trị hết cả, mặc dù lúc đó Phong Trào Cách Mạng Quốc Gia và đảng Cần Lao Nhân Vị hoạt động náo nhiệt như sóng cồn. Trong đơn vị, chúng tôi được nhiều sĩ quan đảng viên Cần Lao yêu cầu tham gia, nhưng chúng tôi đều kiếm cớ thật nhã nhặn để từ chối vì nhận thấy rằng nhiệm vụ của mình là quân nhân thì chỉ có trách nhiệm phục vụ quân đội, bảo vệ tổ quốc, giữ an ninh cho toàn dân sống ấm no hạnh phúc là đủ rồi, chứ việc gì phải vào đảng phái cho thêm rắc rối.
    Ấy nghĩ như vậy và ráng làm như vậy mà Nam và tôi cũng tự nhiên vô cớ dính vào vụ đảo chính 11-11-1960, bị phiền hà không ít trong hơn một năm trời, ra vào An Ninh Quân Đội không biết bao nhiêu lần. Tuy rằng kết cục chúng tôi đều vô can nhưng không khỏi làm mất tinh thần và buồn rầu không ít. Thực tình trong vụ này, Đại Tá Nguyễn Chánh Thi cũng chẳng có dính líu gì. Ông là người quân nhân thuần túy và tuyệt đối trung thành với Tổng Thống Ngô Đình Diệm. Lúc Nhảy Dù đang đánh Bình Xuyên trong đô thành Sài Gòn thì Đại Úy Nguyễn Chánh Thi được đổi từ Ngự Lâm Quân ở Đà Lạt xuống làm tiểu đoàn trưởng TĐ5ND, mới gặp ông lần đầu mà tất cả anh em đều cảm mến ông. Có lẽ tính tình trẻ trung cởi mở, hay nói đùa nói giỡn của ông làm anh em mến phục. Ngày đầu tiên trình diện để nắm tiểu đoàn, ông mang lon có một bên vai mà thôi (lúc đó còn mang lon của Tây). Anh em trông thấy ai cũng khoái vì thấy ông chịu chơi và “ba gai” nữa.
    Nam có biết Đại Tá Thi từ trước thì phải, hôm đầu tiên gặp ông, Nam ghé tai tôi nói thì thầm: “Tay này là tay tổ đấy ông à, theo tôi nghĩ thì ông này sẽ là chỉ huy trưởng Liên Đoàn Nhảy Dù trong tương lai đấy.” Quả nhiên chỉ cầm tiểu đoàn vài tuần lễ là ông được mang lon thiếu tá, rồi sau khi các tiểu đoàn Nhảy Dù đánh bật Bình Xuyên ra khỏi đô thành, truy kích xuống Rừng Sát, và khi chiến dịch Hoàng Diệu chấm dứt với sự tan rã hoàn toàn của đám tàn quân Bảy Viễn thì ông Thi được mang lon Trung Tá. Ai cũng thấy Trung Tá Thi sẽ thay thế Đại Tá Đỗ Cao Trí đến nơi rồi. Thật tình mà nói thì tất cả mọi quân nhân Nhảy Dù ai ai cũng mến chuộng và hết lòng làm việc với Trung Tá Thi vì tính nết xuề xòa, thẳng thắn, dùng người theo khả năng không vì quen biết, đảng phái hay địa phương. Chỉ có một điều là ông phục tùng Tổng Thống Ngô Đình Diệm vô điều kiện.
    Có một lần, khoảng tháng 11 năm 1957, Tổng Thống đòi Đại Tướng Lê Văn Tỵ, Đại Tá Nguyễn Chánh Thi vào trong dinh Độc Lập ra lệnh mở cuộc hành quân thám sát tại vùng Bunard, Bà Rá. Tổng Thống ra lệnh là phải tìm cho được con đường mòn mà khoảng năm 1840, thời vua Minh Mạng, Bình Tây Đại Tướng Quân Trương Minh Giảng đã sang đánh Cao Miên. Nhìn vào bản đồ thấy rừng núi xanh rì, vòng cao độ của núi đèo từ trên một ngàn thước trở lên, ai ai cũng thấy chảy mồ hôi vì cả hơn trăm năm rồi nếu có con đường mòn đó thì cũng đã bị thời gian xóa nhòa làm sao mà tìm cho nổi. Mấy vị chỉ huy cao cấp đứng ngẩn người không ai dám nói một câu vì đã có truyền thống là “lệnh Cụ ai mà dám bàn cãi.”
    Vậy là đơn vị sửa soạn hành quân theo lệnh thượng cấp. Hai đại đội của TĐ3ND cùng với Nam và tôi khăn gói lên đường. Nam thì là Đại Đội Trưởng Đại Đội Kỹ Thuật phải vào vùng thám sát để tìm cho được một bãi nhảy dù. Đi hai ngày trời mới đến chân núi, rừng già âm u có lẽ là hàng trăm năm chưa có dấu chân người, những cây cổ thụ cao vút trời xanh hàng 5, 6 người ôm không giáp vòng. Ngửa cổ nhìn lên đỉnh núi chỉ thấy sương khói mờ mờ, phải vượt qua những con suối rộng hàng trăm thước, nước chảy như tên bắn. Phải dùng dây leo núi, một người leo lên trước rồi cột dây vào cây, anh em ở dưới bám vào đó mà leo lên. Leo từ sáng đến chiều tối không được mấy chục thước. Rút cuộc lại kết quả là có 2 anh em bị nước cuốn đi mất tích, một người đứt dây lăn từ triền núi xuống bị thương nặng.
    Trở lại vụ đảo chánh ngày 11-11-1960, lực lượng tham gia thì là Nhảy Dù nhưng các người cầm đầu lại là các sĩ quan trung cấp thuộc các binh chủng khác. Nguyên do đưa tới hành động này là do bất mãn và tham vọng cá nhân chứ cũng chẳng phải là muốn thay đổi đường lối chống Cộng hay đem lại tự do dân chủ cho đất nước.
    Chiều ngày 10-11 khoảng 4 giờ chiều, tôi nhận được một cú điện thoại của thiếu tá L., tiểu đoàn trưởng TĐ3ND: “Tối nay 7:30 toi đến moi rồi tụi mình đi ăn cơm cho vui, có cả Nam cùng đi.” Xưa nay, tôi và thiếu tá L. đi chơi với nhau rất thường, nghe nói có cả Nam đi nữa là tôi nhận lời liền. Đến giờ đã định, tôi đến nhà thiếu tá L. (ông L. ở một căn nhà nhỏ trong doanh trại của TĐ3ND) thấy đèn đuốc tắt tối thui. Tôi đi xe vespa vào thẳng căn nhà ông L., vừa ngừng xe thì bị hai người chặn ở đàng sau lưng trói chặt hai tay, rồi họ dẫn tôi vào nhà. Lúc đó có lẽ ông L. cũng ngượng với tôi nên ông ấy lánh mặt, mà chỉ để 3 sĩ quan khác ra mặt mà thôi, tôi có ý định tìm Nam nhưng không thấy. Sau khi nói mấy lời an ủi là anh em nhưng vì nghĩa lớn nên bắt buộc phải giữ tôi lại đêm nay, rồi sáng mai khi cách mạng thành công thì sẽ thả tôi về. Chừng 5 phút sau thì thấy Nam bị dẫn vào. Sau đó hai chúng tôi đều bị trói và đưa vào giam trong nhà kho tiểu đoàn.
    Tôi chẳng hiểu sao mà mấy người đó bắt tôi và Nam, có lẽ họ nghĩ chúng tôi là người thân tín của Đại Tá Thi chăng? Nếu nghĩ như vậy thì họ đã lầm lẫn lớn vì Đại Tá Thi dùng người theo khả năng, ai làm được việc thì ông ấy giao cho chức vụ, chứ tuyệt đối không phải vì đảng phái, địa phương hay tư vị gởi gấm. Tôi là người Bắc, trước khi vào quân đội chưa gặp Đại Tá Thi lần nào, chúng tôi chỉ biết nhau khi cùng phục vụ trong một binh chủng, cùng màu cờ sắc áo. Ông Đại Tá Thi đối xử với ai cũng hết lòng tử tế, luôn luôn xuề xòa như tình anh em, không có phân biệt nên chúng tôi ráng hết sức làm việc. Nếu vì lòng ghen ghét thì lại càng lầm lẫn lớn hơn nữa vì trong binh chủng Nhảy Dù luôn luôn đề cao tình chiến hữu, cùng sống chết có nhau, dù trước họng súng của quân thù, tình chiến hữu lúc nào cũng luôn bền chặt.
    Ngồi trong nhà giam, Nam và tôi thì thầm bàn nhau làm sau tìm cách vượt ra ngoài để báo cho Đại Tá Thi biết, vì chúng tôi đều biết rằng mấy người này âm mưu làm chuyện gì có hại cho binh chủng. Chúng tôi tìm cách cởi trói cho nhau nhưng giây dù siết chặt quá đau chịu không nổi. Vào khoảng 2 giờ sáng thì nghe tiếng súng nổ vang dậy, chúng tôi biết rằng họ đã bắt đầu cử sự, bây giờ có tìm cách ra khỏi nhà giam cũng chẳng ích gì. Sáng tinh mơ ngày hôm sau 11-11-60, hai người bạn ở TĐ3ND vào mở cửa cho chúng tôi ra (đó là Đại Úy Trần Đình Vị và Trung Úy Nguyễn Minh Tiến) và có nói chuyện về việc tối hôm qua, khoảng nửa đêm thì Trung Tá Đ. đến báo cho Đại Tá Thi biết là một số anh em trong đơn vị đã đứng lên làm cuộc cách mạng lật đổ nhà Ngô và mời Đại Tá Thi tham gia, Đại Tá Thi đứng vào trường hợp chẳng đặng đừng nên đành phải xuôi theo.
    Cuộc đảo chánh kéo dài suốt ngày 11 sang ngày 12, chúng tôi ai ai cũng thấy tình hình bất lợi cho phe đảo chánh. Sáng ngày 12-11, nghe tin Sư Đoàn 21 Bộ Binh về giải cứu cụ Diệm và phe đảo chánh đã sẵn sàng tại phi trường để ra đi, chúng tôi vội vàng sang phi trường để tiễn đưa Đại Tá Thi, ông chảy nước mắt bắt tay từng người trước khi lên máy bay sang Căm Bốt sống cuộc đời lưu vong vô định.
    Chúng tôi chỉ biết về vụ đảo chánh như vậy mà thôi, chứ tuyệt đối chả có tham gia gì cả, vậy mà do báo cáo của mấy anh em khác là Nam và tôi có ở trong nhóm đảo chánh, tối hôm đó đi họp rồi vì tranh giành nhau quyền lợi nên hai đứa bị bắt giam ở TĐ3ND. Chúng tôi bị gọi ra nha An Ninh Quân Đội mỗi ngày để chịu thẩm vấn, những người hỏi cung chỉ quanh đi quẩn lại hỏi tại sao hôm đó chúng tôi lại có mặt ở TĐ3ND, tới đó làm gì, vai trò của chúng tôi trong vụ đảo chánh? Tôi và Nam cứ thực sự khai là đến chơi do thiếu tá L. mời chứ chả có dụng ý gì cả. Kêu tới kêu lui như vậy cả năm trời, cả hai ông bác sĩ Văn Văn Của và Hoàng Cơ Lân cũng trong hoàn cảnh này.
    Một hôm theo thường lệ ra nha An Ninh Quân Đội ở đường Nguyễn Bỉnh Khiêm đến gần chiều tối mới được về, khi đi qua văn phòng Đại Tá Đỗ Mậu, giám đốc Nha, Nam dặn tôi đứng chờ một chút, tôi tưởng rằng Nam có gì bận nên đứng chờ, nào đâu có ngờ rằng ông ấy vào trình diện Đại Tá Đỗ Mậu xin được ngủ lại tại đó để sáng mai đỡ phải di chuyển mất công. Gớm đến lúc ông ấy ra nói lại như vậy, tôi la quá trời, vì không có ai lại muốn ngủ lại nha An Ninh Quân Đội. Nghe tôi cằn nhằn, Nam đỏ bừng mặt lên và đứng cười (Nam rất hay đỏ mặt, khi buồn cũng đỏ mặt nhưng đứng nín thinh, còn khi nào vui thì đỏ mặt và mím môi lại cười ùng ục trong cổ).
    Trong thời gian này, các sĩ quan kỳ cựu trong binh chủng đều buồn chán vì thấy chính trị đã chi phối tất cả mọi chuyện và bầu không khí trong đơn vị bắt đầu khó thở chứ không còn như xưa nữa. Nhiều lúc, tôi nghĩ rằng đã đến lúc mình phải rời Lữ Đoàn Nhảy Dù, tôi bàn chuyện này với Nam nhưng Nam nín lặng không nói gì, chỉ tỏ ra trầm ngâm, suy nghĩ và buồn nhiều. Là người bạn hơn tuổi, Nam lúc nào cũng khuyên nhủ tôi phải nhẫn nhịn, không nên nóng nảy chỉ đem bất lợi cho bản thân mình.

Trích trong hồi ký của ông Đỗ Đình Lũy.
Ông nguyên là Đại Đội Phó Đại Đội Kỹ Thuật Dù
trong thời điểm 1956-1961.